Luật Quản lý thuế (sửa đổi): Doanh nghiệp mong đảm bảo tối đa lợi ích của người nộp thuế

Góp ý cho dự thảo Luật Quản lý thuế (sửa đổi) mới được Tổng cục Thuế đưa ra lấy ý kiến, nhiều doanh nghiệp cho rằng dự thảo luật lần này đã có nhiều nội dung sửa đổi theo hướng thông thoáng, tạo điều kiện cho doanh nghiệp thông qua những quy định rõ ràng, minh bạch hơn.

Doanh nghiệp làm thủ tục tại Cục Thuế TP.HCM. Ảnh: Nguyễn Huế.

Đảm bảo cách hiểu thống nhất

Đánh giá về dự thảo Luật Quản lý thuế sửa đổi, theo bà Bùi Thị Lệ Phương, Giám đốc Công ty Tư vấn tài chính, kế toán thuế Centax, Dự thảo Luật đã được ban soạn thảo thực hiện rất có trách nhiệm, đặc biệt là có nhiều điểm mới được bổ sung theo hướng tạo điều kiện thuận lợi, giảm thiểu thời gian cho người nộp thuế…

Cho ý kiến góp ý thêm về dự thảo này, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng, về quyền của người nộp thuế (Điều 18 Dự thảo), thực tế cho thấy nhiều cơ quan kiểm tra không giải thích căn cứ ấn định thuế, dẫn đến việc doanh nghiệp có tính theo đúng phương pháp mà cơ quan thuế tính vẫn không ra được đúng con số như cơ quan thuế ấn định. Điều này dẫn đến tâm lý bức xúc của người nộp thuế. Do đó, đề nghị Ban soạn thảo bổ sung quyền được giải thích “căn cứ ấn định thuế” vào Khoản 2 Điều 18 của Dự thảo.

Đồng thời, tại khoản 6 Điều 21 của Dự thảo giữ nguyên quy định tại Luật Quản lý thuế hiện hành về quyền công khai trên phương tiện thông tin đại chúng các trường hợp vi phạm về thuế của cơ quan quản lý thuế. Và theo quy định tại Điều 102 thì người nộp thuế có thể bị công khai thông tin trong 3 trường hợp. Theo VCCI, việc công khai thông tin có tác động rất lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, có khả năng làm doanh nghiệp phá sản và không có khả năng nộp thuế. Vì vậy phải hết sức thận trọng với việc áp dụng chế tài này, tránh tình trạng tùy tiện. Hiện tại, các quy định này chưa bảo đảm tính hợp lý, minh bạch và có thể dẫn đến cách hiểu khác nhau như về khái niệm “vi phạm pháp luật về thuế” chưa rõ ràng, liệu hành vi “kê khai sai do cách hiểu khác nhau” của người nộp thuế và cơ quan quản lý thuế do văn bản quy phạm pháp luật không rõ ràng thì có bị coi là vi phạm không.

Hoặc tiêu chí “Không thực hiện các yêu cầu của cơ quan quản lý thuế theo quy định của pháp luật” cần phải làm rõ để giảm thiểu việc các doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi việc công bố khi thông tin chưa phải là kết luận chính xác cuối cùng. Vì vậy VCCI đề nghị Ban soạn thảo quy định cụ thể và có biện pháp phòng ngừa các trường hợp có thể xảy ra nêu trên.

Quy định rõ ràng về điều kiện xóa nợ thuế

Đồng tình với quan điểm của VCCI, bà Đặng Thị Bình An, đại diện Công ty Tư vấn C&A kiến nghị, cần có quy định rõ ràng hơn về điều kiện xóa nợ thuế để tránh trường hợp cán bộ thuế thông đồng với doanh nghiệp lợi dụng chính sách này để trục lợi.

Bên cạnh đó, theo VCCI, một trong các căn cứ ấn định thuế là “so sánh số thuế phải nộp của cơ sở kinh doanh cùng mặt hàng, ngành nghề, quy mô tại địa phương…”, tuy nhiên có điểm bất hợp lý khi áp dụng căn cứ này đối với các doanh nghiệp mới thành lập đó là lợi nhuận những năm hoạt động đầu tiên chưa thể cao được bằng các doanh nghiệp đã hoạt động ổn định. Bên cạnh đó, Dự thảo quy định so sánh thông tin của cơ sở kinh doanh ở địa phương khác có cùng mặt hàng, ngành nghề và quy mô tại địa phương. Tuy nhiên đặc điểm mỗi địa phương là khác nhau do điều kiện kinh tế, nhu cầu thị trường là khác nhau (kể cả đối với các địa phương giáp cạnh nhau). Do đó, cần cân nhắc quy định cụ thể và chặt chẽ hơn về căn cứ này bảo đảm tối đa lợi ích của người nộp thuế theo hướng việc so sánh phải bảo đảm tính hợp lý, khả thi.

Đặc biệt, VCCI cũng kiến nghị, mục tiêu của sửa đổi lần này cần giải quyết được vấn đề trên, giảm tối đa các trường hợp kéo dài thời hạn thanh tra, cần đưa ra được các tiêu chí chặt chẽ để gia hạn thanh tra. Bởi trên thực tế, nhiều cuộc thanh tra, kiểm tra thuế có thời gian kéo dài (có trường hợp đến vài tháng), gây tốn kém chi phí cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp còn phải bố trí cán bộ, nguồn lực để cung cấp tài liệu, trao đổi thông tin và thời gian này không được tính vào thời gian thanh tra, thực tế có nhiều cuộc thanh tra phải gia hạn thời hạn nhiều lần.

Tương tự như vậy với quy định về tạm dừng, tạm hoãn thanh tra. Hiện tại Luật thanh tra và các văn bản hướng dẫn thi hành không quy định các căn cứ tạm hoãn, tạm dừng thanh tra. Vì vậy, VCCI đề nghị Ban soạn thảo xem xét bổ sung nội dung này vào Dự thảo.

Ông Nguyễn Văn Dũng, Công ty TNHH Minh Đức kiến nghị, cần quy định rõ thời hạn được miễn kiểm tra, thanh tra nếu doanh nghiệp không nằm trong danh sách kiểm tra, thanh tra thuế của cơ quan thuế. Bởi nếu để quá lâu thì chứng từ, tài liệu tồn quá nhiều, cần thuê kho lưu trữ phức tạp và tốn kém, nhiều chứng từ quá thời hạn lưu trữ theo quy định của Luật kế toán.

Cho ý kiến thêm về thời hạn nộp thuế, ông Dũng cũng cho biết, hiện nay việc gửi thông báo đến người nộp thuế bằng đường bưu điện khá mất thời gian dẫn đến việc người nộp thuế nhận được thông báo quá chậm, không đủ để chuẩn bị hồ sơ. Do đó ông Dũng đề xuất, trong dự thảo cần quy theo hướng thời hạn nộp thuế được tính theo số ngày, kể từ ngày người nộp thuế nhận được thông báo (theo xác nhận của bưu điện) để bảo đảm quyền lợi cho doanh nghiệp.

Xuân Thảo