Lợi thế đang bị đánh mất

    Báo Công An Nhân Dân
    Gốc

    Hải Phòng là thành phố biển, có ngư trường lớn. Người Hải Phòng giàu kinh nghiệm về nuôi trồng và đánh bắt thủy - hải sản. Đây là những tiềm năng, lợi thế lớn mà không phải địa phương ven biển nào cũng có được. Nhờ tiềm năng, lợi thế này mà nghề cá ở Hải Phòng đã có thời "phất" mạnh, ví như "sóng Duyên hải", được Bác Hồ về thăm, khích lệ. Đáng tiếc, những lợi thế đó đang dần bị mất. Vậy đâu là nguyên nhân?

    Nhiều tiềm năng, lợi thế chưa được tận dụng Ngoài tổng diện tích nuôi trồng thủy sản (NTTS) hiện có, gồm xấp xỉ 14.000ha ra, Hải Phòng còn có 2 ngư trường lớn là Long Châu và Bạch Long Vỹ. Với đội tàu đánh cá hùng mạnh, từng dọc ngang khắp các ngư trường, kể cả khi thời tiết khắc nghiệt nhất. Sản phẩm khai thác được, đưa về bờ đã có các nhà máy chế biến thủy - hải sản tiếp nhận ngay. Chưa có địa phương nào ở miền Bắc lại có nhiều cơ sở chế biến thủy - hải sản quy mô công nghiệp lớn như ở Hải Phòng (gồm 13 cơ sở, chiếm 75% số lượng cơ sở chế biến thủy sản ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ). Không những thế, nguồn lực lao động ngành Thủy sản của Hải Phòng cũng dồi dào nhất… Như vậy về mặt cơ bản, lợi thế để phát triển kinh tế thủy sản của Hải Phòng là khá lớn. Tuy nhiên, như đã nói ở trên, những lợi thế này đã và đang bị mất dần, hoặc chưa được địa phương tận dụng triệt để. Kết quả là, kinh tế thủy sản ở Hải Phòng đến nay đều sụt giảm cả về quy mô, năng suất lẫn sản lượng khai thác, nuôi trồng. Bằng chứng, tại Báo cáo Sơ kết 2 năm thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TU của Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng (khóa 13) về Đẩy mạnh phát triển kinh tế thủy sản giai đoạn 2006-2010, định hướng đến năm 2020, Sở NN&PTNT Hải Phòng đã nêu một loạt những hạn chế, yếu kém. Trong đó, chỉ riêng việc NTTS với 6 dự án nuôi tôm công nghiệp được thành phố phê duyệt triển khai thực hiện từ năm 2000, đến nay đã 9 năm, vẫn chưa có dự án nào được hoàn thành. Trong số này, 4 dự án đã phải tạm dừng đầu tư. Những diện tích còn lại chủ yếu vẫn là nuôi quảng canh, hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích thấp. Khu vực nuôi cá lồng bè trên biển tuy phát triển, nhưng lại bung ra ào ạt, thiếu quy hoạch, đã gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường nước trong khu vực. Nuôi cá lồng bè ở vùng biển Cát Bà (Hải Phòng). Tương tự, khai thác hải sản năng suất cũng đạt rất thấp. Trong khi nguồn lợi hải sản ven bờ suy giảm thì tình trạng đánh bắt tận diệt và hủy diệt ở địa phương vẫn chưa chấm dứt....Chính bởi những lý do đó, khiến tổng sản lượng thủy sản năm 2008 của Hải Phòng mới chỉ đạt 81.879 tấn (kế hoạch đến 2010 là 100.000 tấn). Đặc biệt, chế biển thủy sản hiện mới đạt khoảng trên 50% công suất thiết kế của các nhà máy, do thiếu nguyên liệu. Sự lãng phí này, cộng với nghèo nàn, đơn sơ về mặt hàng (hầu hết chế biến thô, gia công là chính) nên hiệu quả kinh doanh thấp. Thậm chí, có cơ sở chế biến thủy sản còn bị chết yểu, buộc phải thay đổi phương thức sản xuất kinh doanh mới tồn tại nổi. Nguyên nhân Sở dĩ kinh tế thủy sản Hải Phòng chưa bứt phá được, dẫn đến nhiều tiềm năng, lợi thế đang dần bị mất hoặc chưa tận dụng được một cách triệt để, là do nhiều nguyên nhân, cả khách quan lẫn chủ quan. Trong đó, 3 nguyên nhân được coi là mấu chốt nhất mà theo chúng tôi, đó chính là lực cản khiến kinh tế thủy sản Hải Phòng, dù đã có cả một chặng đường 50 năm phát triển, hiện vẫn "giẫm chân tại chỗ", thậm chí còn thụt lùi hơn trước. Thứ nhất, là do quy hoạch về phát triển thủy sản của Hải Phòng bị phá vỡ nghiêm trọng, bởi tốc độ phát triển công nghiệp, đô thị ở địa phương quá nhanh. Đã vậy, nó đã không kịp thời được rà soát để điều chỉnh. Nói cách khác, quy hoạch về phát triển kinh tế thủy sản chưa được ngành, địa phương ở Hải Phòng quan tâm đúng mức. Hậu quả là, ngoài diện tích NTTS bị thu hẹp (từ năm 2006 đến nay giảm gần 420ha) ra, những vùng nuôi tập trung khác luôn trong tình trạng thắc thỏm, hộ nuôi không muốn đầu tư lâu dài để phát triển bền vững. Thứ hai, mặc dù có ngư trường rộng, số lượng tàu thuyền khai thác hải sản đông (trên 3.100 phương tiện), nhưng chủ yếu chỉ là tàu công suất nhỏ (chiếm tới 70%), nên chỉ khai thác quanh quẩn ven bờ. Trong khi đó, nhận thức về bảo vệ nguồn lợi thủy sản của ngư dân địa phương còn thấp. Đây chính là lý do khiến hiệu quả khai thác hải sản không cao, nếu không muốn nói, khai thác nguồn lợi thủy - hải sản ở khu vực biển Hải Phòng đang có nguy cơ thiếu bền vững. Thứ ba, một nhân tố quan trọng để kinh tế thủy sản phát triển là việc thực thi các cơ chế chính sách hỗ trợ cũng như đầu tư. Nhưng đến nay, ngoài cơ chế, chính sách chung ra, địa phương cũng chưa có cơ chế, chính sách riêng nào mang tính đột phá để khuyến khích kinh tế thủy sản của thành phố phát triển. Thậm chí, có lúc, có địa phương, việc triển khai các cơ chế, chính sách hỗ trợ của Chính phủ còn chậm, cá biệt có địa phương còn để ngư dân phàn nàn. Đặc biệt, trong số 6 dự án về NTTS được thành phố phê duyệt 323,6 tỷ đồng (ngân sách đầu tư xấp xỉ 117 tỷ), nhưng đến nay, thành phố mới bố trí được hơn 60 tỷ. Bởi vậy, nếu muốn kinh tế thủy sản của Hải Phòng tận dụng được hết tiềm năng, lợi thế, lấy lại được vị thế là "chiếc nôi" của ngành thủy sản cả nước, không thể khác là phải khắc phục được tất cả những yếu kém, tồn tại trên. Về việc này, theo chúng tôi, ngoài sự nỗ lực vượt khó, năng động của địa phương ra, cần thiết phải có sự hỗ trợ tích cực của các Bộ, ngành có liên quan. Bởi vì, đây không chỉ là một ngành kinh tế quan trọng của địa phương cần được quan tâm, mà đó còn là sự khích lệ để địa phương phát huy được hết thế mạnh của mình, đồng thời thực thi hiệu quả chiến lược bảo vệ chủ quyền biên giới biển đảo quốc gia mà Hải Phòng là một trong số địa phương có vai trò, trọng trách không nhỏ

    Nguồn CAND: http://ca.cand.com.vn/vi-vn/anninhkinhte/tinankt/2009/9/151654.cand