Làng làm bánh hỏi vợ cho thiên hạ

Bánh Phu Thê thường gói thành từng cặp là một trong lễ vật không thể thiếu trong đám cưới hỏi của người Kinh Bắc, như một biểu tượng chung thủy của lứa đôi.

Nếu đã có dịp đến thăm Đền Đô, phường Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh chắc hẳn không ai còn xa lạ với món bánh xu xuê bán dọc lối vào. Bánh không chỉ là thứ quà quê dân dã được lòng du khách ghé chơi, mà còn là đặc sản nổi tiếng của vùng quê Kinh Bắc với tên gọi bánh phu thê.

Có rất nhiều truyền thuyết xoay quanh sự ra đời của tên bánh. Có người kể rằng, khi vua Lý Anh Tông xuất chinh, hoàng hậu chính tay vào bếp làm ra món bánh gửi theo chồng đi đánh trận. Vua ăn thấy ngon, nghĩ đến tình vợ chồng đã đặt tên bánh là phu thê, sau này còn có tên gọi là bánh xu xuê.

Bánh phu thê trước khi đem luộc.

Truyền thuyết khác lại cho rằng, trong một lần hội làng ở Đình Bảng, Lý Thánh Tông cùng vợ là Nguyên phi Ỷ Lan về quê lễ ở Đền Đô đã được dân làng dâng bánh xu xuê. Sau khi thưởng thức, Đức vua và Nguyên Phi đều phải khen ngon. Người cho rằng nếu được ăn bánh thì gia đình sẽ hạnh phúc hơn.

Bởi thế, ngày nay không ít các gia đình muốn dựng vợ gả chồng cho con cái đều đến Đình Bảng để đặt bánh phu thê làm lễ hỏi. Suốt một dọc đường từ cổng đền Đô kéo đến tận đình Đình Bảng, đâu đâu cũng có nhà làm bánh phu thê. Ngoài khu vực cổng đền, bánh phu thê ở Đình Bảng hầu như không phải bày bán, chào mời như ở chợ, mà chủ yếu khách tìm tới nhà để đặt mua.

Chiếc bánh nhỏ chừng lòng bàn tay, nhìn tưởng đơn giản nhưng phải qua rất nhiều công đoạn. Bột làm bánh phải được làm từ gạo nếp cái hoa vàng, giã tay hoặc xay bằng cối nước, sau đó lọc lấy chất tinh, ép cho ráo nước rồi phơi khô. Để làm nên màu vàng đặc trưng của vỏ bánh phu thê, người Đình Bảng tuyệt nhiên không dùng phẩm mà lấy nước quả dành dành để tạo màu.

Nước quả dành dành để tạo màu.

Nhân bánh là đỗ xanh ngâm kỹ, đãi vỏ, đem đồ và thắng đường cát. Khi gói bánh, người thợ trộn thêm sợi đu đủ khô để tạo độ dai và thêm sợi dừa nạo để bánh có vị ngậy. Nhân bánh cũng thường được thêm hạt sen để tạo vị thơm ngon, hấp dẫn khi cần.

Nhân đỗ sau khi nặn tròn được đặt trong vỏ bánh hình vuông và gói lại bằng hai lớp lá, bên trong là lớp lá chuối chống dính, ngoài cùng lá lớp lá dong. Người ta còn quét lên lá một lớp mỡ để khi bóc bánh không bị dính, lại làm cho bánh có độ ngậy đặc trưng. Bánh sau khi gói được đem luộc dưới bếp lửa than vừa lửa. Bánh chín vớt ra, ép nước giống bánh chưng rồi gói thành từng đôi một.

Trái ngược với vẻ yên bình của làng quê bên ngoài cánh cửa là khung cảnh nhộn nhịp bên trong những gia đình làm bánh phu thê truyền thống. Mỗi người một việc, người làm nhân, trộn bột, người rửa lá, buộc dây. Có chứng kiến đủ công đoạn làm bánh mới thấy được người làng Đình Bảng gửi gắm vào đó biết bao hàm ý.

Màu vàng óng của phu thê Đình Bảng.

Nhân tròn, bánh vuông như biểu tượng vuông tròn của triết lý âm dương. Bột dàn mỏng, đặt nhân vào một đầu rồi đắp phần bột còn lại lên nhân như thể hiện sự ôm ấp, che chở của tình phu thê. Triết lý Á Đông cũng được thể hiện một cách tinh tế qua các màu của bánh. Lá gói xanh tượng trưng cho sự chung thủy, lạt buộc hồng mô phỏng sợi tơ hồng kết nối, bánh màu vàng thể hiện tình yêu thương của vợ đối với chồng.

Bánh được bóc ra tỏa mùi hương mát dịu khắp sân. Sau lớp lá đổi màu vì nước luộc là lớp vỏ bánh sắc vàng trong suốt bên trong. Chỉ cần cắn một miếng nhỏ là có thể cảm nhận được độ dẻo của nếp, độ giòn của đu đủ, độ ngậy của đỗ xanh, vị béo của cùi dừa, vị bùi của hạt sen, vị ngọt của đường... hòa quyện vào nhau làm thành hương vị rất riêng của bánh.

Bài và ảnh: Vy An

Theo VnExpress