Làm gì khi bị khó thở, ngạt thở?

Khó thở là một cảm giác khó chịu đặc biệt khi hô hấp. Người bệnh mô tả nhiều trạng thái như: không đủ không khí, không khí không vào phổi ngay, ngực bị bó chặt hay cảm giác nghẹt thở…

Khó thở phải ngồi dậy hoặc tư thế nửa nằm nửa ngồi, nắm tay vào chấn song cửa sổ hoặc thành giường. Nhịp thở nhanh nông (bình thường 12 - 16 lần/phút). Có thể chia ra khó thở cấp và khó thở từ từ chưa đến mức độ cấp.

Làm gì khi bị khó thở, ngạt thở? - Ảnh 1

Ảnh minh họa

Cơn hen phế quản: Khó thở ra, xuất hiện đột ngột, gặp khi thời tiết thay đổi, người bệnh cảm thấy ngột ngạt, thường phải vịn tay vào thành giường để thở. Có tiền sử dị ứng và tái phát nhiều lần. Sau cơn khó thở có ho hoặc không ho và khạc ra nhiều đờm, đờm có thể rắn, keo lại như tép bưởi. Chụp X-quang hai trường phổi sáng hơn bình thường. Cần làm chức năng hô hấp để xác định thêm.

Tràn khí màng phổi: Khó thở dữ dội sau một cơn đau ngực, gọi là “tiếng sét đánh giữa trời quang”. Khó thở khi hít vào, mặt nhợt nhạt, trán vã mồ hôi, có khi buồn nôn. Gõ phổi vang, rì rào phế nang giảm, rung thanh giảm. Xảy ra trên những người giãn phế nang, ho gà, kén hơi ở phổi hay sau một động tác làm việc gắng sức. X-quang thấy nhu mô phổi bị ép lại thành một cụm ở rốn phổi

Dị vật vào đường thở: Cơn khó thở xảy ra đột ngột, mặt môi tím đen, có tiếng cò cử, ngạt thở dữ dội, vã mồ hôi, nửa giờ sau dị vật xuống thấp hơn thì khó thở nhẹ dần. Nếu dị vật nằm ở thanh khí quản, không xuống được, mặt, môi bệnh nhân tím tái.Dị vật lớn bít kín đường thở, nếu không được cấp cứu kịp thời có thể chết.

Khó thở do bệnh nghề nghiệp: Phổi bị tổn thương do làm việc trong môi trường bụi bặm (công nhân cầu đường, mỏ đá, mỏ than, mỏ quạng kim loại...). Có thể thấy ho khạc ra đờm xám đặc hầu như mỗi ngày...

Ngạt thở thường xảy ra do nhiễm hơi, khí độc cấp như NO2, NH3, CO, CO2…, vết thương lồng ngực có tiếng thở phì phò, sập đường hầm, bị dị vật làm tắc đường khí quản, điện giật, chết đuối… Ngạt thở trước rồi dẫn đến ngừng tim. Nếu chậm cấp cứu quá 5 phút sẽ không cứu được nạn nhân. Thường biểu hiện khó thở, thở chậm, thở nông hoặc ngừng thở, môi, mặt tím tái, nằm vật vã, mê man.

Cần đặt nạn nhân ra nơi thoáng khí nếu ở trong hầm kín hoặc nơi thiếu ôxy. Đặt nạn nhân nằm ngửa, người cấp cứu quỳ ngang vai nạn nhân, một tay đặt lên trán ấn nhẹ xuống làm đầu nạn nhân ngửa ra sau gáy. Mở miệng nạn nhân, đưa ngón tay vào miệng kiểm tra, lấy dị vật nếu có, dùng một tay vừa bịt mũi vừa ấn trán xuống, một tay nâng cằm giữ miệng nạn nhân rồi úp miệng mình kín miệng nạn nhân, thổi mạnh cho ngực nạn nhân phồng lên.

Sau đó ngửa đầu lên hít vào hết sức lại thổi vào miệng nạn nhân như trên (mỗi lần thở kéo dài từ 1 - 2 giây thổi 2 lần rồi áp tai lên ngực bên trái nạn nhân, nếu chưa nghe thấy tiếng tim đập phải tiếp tục thổi ngạt với tần số 12 - 15 lần/phút cho đến khi nạn nhân hồi tỉnh hoặc đồng tử giãn hết mới thôi, có khi cấp cứu hàng giờ liền)...

GS NGUYỄN LÂN DŨNG