Kinh tế Việt Nam 2013-2015: Tạo đà phát triển bền vững

LTS: Năm 2013 và dự báo trong một vài năm tới, tình hình kinh tế trong nước và thế giới sẽ còn có những diễn biến phức tạp, khó khăn sẽ vẫn tiếp diễn và xu hướng hồi phục vẫn chưa rõ nét. Thực tế ấy sẽ buộc Việt Nam phải có những quyết sách phù hợp nhằm vừa kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, vừa tháo gỡ khó khăn, tạo đà phát triển kinh tế bền vững. Báo Quân đội nhân dân xin giới thiệu loạt bài viết của các chuyên gia kinh tế về những nội dung này…

Bài 1: Bức tranh kinh tế năm 2012 và triển vọng năm 2013

Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2012 đặt mục tiêu: “Ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì mức tăng trưởng hợp lý gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cơ cấu nền kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế…”. Thực hiện Nghị quyết này trong bối cảnh vẫn còn chịu tác động không thuận từ sự phục hồi tăng trưởng chậm của kinh tế thế giới, cùng với khó khăn, hạn chế mang tính cơ cấu tồn tại nhiều năm của kinh tế nước ta và tính hai mặt của chính sách thực hiện mục tiêu ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô tiến hành từ tháng 2 năm 2011, nhưng Việt Nam đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận.

Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) là một trong những điểm sáng nhất trong bức tranh kinh tế Việt Nam năm 2012 khi lợi nhuận đạt 27.000 tỷ đồng, tăng 40% so với năm 2011. Trong ảnh: Sản xuất thiết bị viễn thông tại Viettel. Ảnh: Phú Thọ

Lãi suất cho vay năm 2012 đã giảm nhanh với mức giảm từ 5 đến 8%/năm so với cuối năm 2011, phù hợp với diễn biến lạm phát, kinh tế vĩ mô và thị trường tiền tệ. Tính đến ngày 21-9-2012, tổng phương tiện thanh toán (M2) ước tăng 12,21%, tổng dư nợ tín dụng tăng khoảng 2,52% so với 31-12-2011. Tuy nhiên, khả năng tăng trưởng tín dụng trong thời gian tới vẫn rất khó khăn.

Năm 2012 đánh dấu một sự thay đổi lớn về chính sách quản lý thị trường vàng. Quy định mới ở tầm nghị định đã giao cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) quyền cấp phép đối với hoạt động kinh doanh mua, bán vàng miếng; tổ chức sản xuất vàng miếng; tổ chức xuất khẩu vàng nguyên liệu, nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng. Việc thực hiện chính sách mới này đồng thời với quá trình chấm dứt hoạt động huy động và cho vay vốn bằng vàng của các tổ chức tín dụng, không cho phép sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán nhằm xử lý vấn đề “vàng hóa” của nền kinh tế là bước đi đúng đắn. Tuy nhiên, do vấn đề quản lý thị trường vàng còn khá mới mẻ ở Việt Nam, còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau, công tác thông tin truyền thông chưa được thực hiện tốt, nên nảy sinh nhiều dư luận.

So với nhiều năm trước đây, ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2012 hụt thu khá lớn ở nhiều lĩnh vực, nhiều địa phương. Đặc biệt, một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có nguồn thu lớn, giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu thu NSNN, không đạt dự toán đã gây ảnh hưởng đến cân đối NSNN. Cơ cấu thu NSNN tiếp tục thể hiện tính thiếu bền vững, phụ thuộc vào thu từ khai thác tài nguyên. Thu nội địa, thu cân đối xuất nhập khẩu giảm mạnh (tổng số giảm 25.500 tỷ đồng) trong đó giảm thu nội địa chiếm gần 50% (khoảng 17.600 tỷ đồng), chủ yếu giảm các khoản thu từ sản xuất, kinh doanh. Điều này phản ánh đúng thực trạng, chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế trong năm 2012.

Hàng tồn kho của nền kinh tế trong năm 2012 đứng ở mức cao, tập trung trong lĩnh vực bất động sản, sản xuất công nghiệp, sản xuất nông nghiệp, ngành kinh tế dịch vụ. Tính đến tháng 7-2012, chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo so với cùng kỳ tăng 21%. Theo thống kê của Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa, hàng tồn kho của loại hình doanh nghiệp này chiếm tỷ lệ lên tới 48,5%. Chỉ số tồn kho tại thời điểm 1-9-2012 của ngành công nghiệp chế biến tăng 20,4% so với cùng thời điểm năm trước. Mặc dù mức tồn kho còn cao nhưng đã có xu hướng giảm dần trong những tháng gần đây. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao là: Sản xuất sản phẩm từ plastic tăng 50,6%; sản xuất xi măng tăng 50,2%; sản xuất sắt, thép, gang tăng 40,6%…

Nguyên nhân thứ nhất dẫn đến tình trạng hàng tồn kho là việc thực hiện chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ thắt chặt ảnh hưởng đến tiến độ triển khai các dự án, công trình. Thứ hai, sự giảm mạnh của tổng cầu trong nước và quốc tế là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất khiến cho các doanh nghiệp ngừng hoạt động hoặc giải thể. Đây cũng là lý do quan trọng nhất để các doanh nghiệp quyết định tăng quy mô sản xuất hay thu hẹp sản xuất. Theo đánh giá của doanh nghiệp, các điều kiện sản xuất của doanh nghiệp đều không được cải thiện trong thời gian gần đây, nhất là về thị trường đầu ra. Thứ ba, lãi suất trong thời gian qua quá cao, khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp rất khó khăn. Thực tế cho thấy, tăng trưởng tín dụng trong những tháng đầu năm 2012 rất thấp, trong khi các doanh nghiệp lại đang khát vốn. Điều này được lý giải, trong bối cảnh khó khăn, các ngân hàng có xu hướng quy định các điều kiện cho vay chặt chẽ hơn để hạn chế rủi ro và bảo đảm an toàn tín dụng, trong khi các doanh nghiệp lại gặp khó khăn trong việc thanh toán các khoản nợ cũ và tìm tài sản thế chấp. Thứ tư, một số ngành (thép, xi măng…) đầu tư không theo quy hoạch, dẫn đến thừa công suất.

Cùng với tình trạng hàng tồn kho cao là tình hình nợ xấu nghiêm trọng ở các lĩnh vực, đặc biệt là bất động sản. Tình hình nợ xấu đã ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn của các doanh nghiệp. Một bộ phận lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa không tiếp cận được vốn ngân hàng, khả năng hấp thu vốn của doanh nghiệp chưa được cải thiện. Các ngân hàng đã mở rộng đối tượng cho vay nhưng tín dụng đưa ra chưa nhiều. Vấn đề chính của doanh nghiệp hiện nay là giải quyết hàng tồn kho, trước khi tính đến vay vốn để sản xuất, kinh doanh. Như vậy, để doanh nghiệp tiếp cận với các khoản vay mới, vấn đề không dừng lại ở hạ lãi suất hay khoanh nợ, mà còn phải hỗ trợ các giải pháp giải quyết hàng tồn kho cho doanh nghiệp.

Tăng trưởng xuất khẩu đạt mức vượt kế hoạch đề ra, nhưng chủ yếu dựa vào tăng trưởng của nhóm hàng công nghiệp của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong khi đó xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp trong nước giảm 0,55% so cùng kỳ.

Việc nhập khẩu nguyên liệu, máy móc phục vụ cho sản xuất và xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước giảm sút; trong khi đó, nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng cao, chủ yếu là nhập khẩu nguyên liệu phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu.

Đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế được Chính phủ trình Quốc hội cho ý kiến vào kỳ họp thứ ba Quốc hội XIII, một số lĩnh vực của nền kinh tế đã được bắt đầu triển khai việc tái cơ cấu từ sớm. Tuy nhiên, đến nay Đề án tái cơ cấu vẫn chưa được phê duyệt chính thức, một số nhiệm vụ mới chỉ ở giai đoạn đầu. Tiến trình tái cơ cấu nền kinh tế đã đạt sự thống nhất cao, nhưng việc thực hiện trên thực tế đến nay chưa mang lại kết quả rõ nét.

Nghị quyết Đại hội Đảng XI và Nghị quyết của Quốc hội đều nêu rõ tái cơ cấu nền kinh tế phải gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng nhưng đến nay việc cụ thể hóa mô hình tăng trưởng chưa được xác định rõ và công khai để làm định hướng cho các bộ ngành và doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế thực hiện. Việc thực hiện Đề án có phần rời rạc và thiếu tính chất tổng thể vì mỗi bộ, ngành lại được phân giao xây dựng đề án riêng, chưa có cơ quan chịu trách nhiệm tổng hợp chung và theo dõi tiến độ thực hiện Đề án tổng thể và các đề án thành phần.

Mối quan hệ giữa cơ quan quản lý-doanh nghiệp-người tiêu dùng không công khai, minh bạch… Lợi ích nhóm, việc tăng giá một số nhóm hàng tiêu dùng thiết yếu, bất động sản đóng băng và hàng tồn kho cao, chênh lệch lớn giữa giá vàng trong nước và thế giới… gây tâm lý bất ổn trong xã hội.

Kinh tế thế giới cũng như kinh tế Việt Nam được dự báo vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức trong năm 2013. Trong bối cảnh này, ngày 8-11-2012 Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 2013 với mục tiêu tổng quát: “Tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô; lạm phát thấp hơn, tăng trưởng cao hơn năm 2012. Đẩy mạnh thực hiện 3 đột phá chiến lược gắn với tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội. Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế. Tăng cường quốc phòng, an ninh và bảo đảm ổn định chính trị-xã hội. Tạo nền tảng phát triển vững chắc hơn cho những năm tiếp theo”.

Việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng hết sức quan trọng, cần giải quyết một cách đồng bộ, cả xử lý nợ xấu, cả tổ chức mô hình hoạt động và giải quyết những ngân hàng yếu kém. Đồng thời, trong quá trình tái cơ cấu phải vừa bảo đảm thanh khoản, chính sách tín dụng, huy động, cho vay, điều hành lãi suất hợp lý, không làm cho lạm phát tăng cao.

Năm 2013 phải tạo ra được một chuyển biến tích cực hơn trong giải quyết nợ xấu. Phân loại nợ xấu, tìm biện pháp cụ thể đối với từng loại nợ xấu khác nhau, để đến năm 2015 giảm mức nợ xấu xuống 3%. Rà soát thực trạng hoạt động kinh doanh của các ngân hàng, làm rõ vấn đề sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng. Gắn tái cơ cấu các tổ chức tín dụng với việc xử lý các sự việc cố ý làm trái để thu lợi của một số tổ chức, cá nhân để từng bước đưa hoạt động tài chính tiền tệ phục vụ phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

Ngoài ra, chúng ta cũng cần tăng cường quản lý chi đầu tư xây dựng cơ bản, vốn trái phiếu chính phủ, chương trình mục tiêu quốc gia. Tập trung vốn cho trả nợ xây dựng cơ bản hoàn thành và các công trình, dự án hoàn thành trong năm 2013. Hạn chế khởi công mới các công trình, dự án. Rà soát, quản lý chặt chẽ các khoản chi chuyển nguồn, chi cho phép chuyển nguồn đối với một số khoản chi thật sự cần thiết theo đúng quy định của pháp luật.

TS NGUYỄN ĐỨC KIÊN (*) và Ths THÁI QUỲNH MAI DUNG (**)

(*) Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội

(**) Phó vụ trưởng Vụ Kinh tế, Văn phòng Quốc hội