Kiên quyết không xuất thô khoáng sản

    Gốc

    (SGGPO).- Sáng nay, 25-11, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình tiếp tục trả lời 36 câu hỏi chất vấn của 18 vị đại biểu Quốc hội mà ông đã nhận được cuối chiều qua. Sau đó, 10 đại biểu khác đã tiếp tục nêu câu hỏi đối với Thống đốc.

    (SGGPO).- Sáng nay, 25-11, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình tiếp tục trả lời 36 câu hỏi chất vấn của 18 vị đại biểu Quốc hội mà ông đã nhận được cuối chiều qua. Sau đó, 10 đại biểu khác đã tiếp tục nêu câu hỏi đối với Thống đốc.

    Tái cơ cấu dựa vào nội lực, tiết kiệm chi phí

    Khẳng định lại những lý do cấp bách của việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, ông Nguyễn Văn Bình cho biết, theo lộ trình tái cơ cấu, trong quý I năm 2012 sẽ thực hiện xong việc phân loại các ngân hàng và nâng cao tính thanh khoản của các ngân hàng. Bước tiếp theo (đến hết năm 2013) sẽ hoàn thành tái cơ cấu. Từ năm 2013 – 2015: tăng cường sức mạnh cho các ngân hàng, tiến tới năm 2020 có 4 ngân hàng có khả năng cạnh tranh quốc tế, trong đó có 1-2 ngân hàng được xếp loại ngân hàng lớn ở khu vực Đông Nam Á.

    Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình. Ảnh: Minh Điền

    Đặt vấn đề ở một góc nhìn khác, đại biểu Trương Trọng Nghĩa (TPHCM) cho rằng, không chỉ có các ngân hàng quy mô nhỏ mới đáng lo ngại. Theo đại biểu, từ kinh nghiệm quốc tế, một ngân hàng quá lớn, có khả năng lũng đoạn thị trường, vô hiệu hóa luật pháp mà đứng trước nguy cơ đổ vỡ sẽ có thể làm Nhà nước hao tốn tiền của để cứu khi xảy ra chuyện, vì “quá lớn, không thể chết”. Liệu ở Việt Nam có thể xảy ra nguy cơ này hay không?

    Trả lời, Thống đốc Nguyễn Văn Bình cho biết, Việt Nam chưa có ngân hàng nào được coi là quá lớn và “đại biểu có thể hoàn toàn yên tâm là không có chuyện có ngân hàng to đến mức không cho đổ vỡ được”.

    Công tác thanh tra kiểm tra của ngân hàng còn yếu kém

    Bác bỏ nghi ngờ của một số đại biểu về “nhóm lợi ích” trong việc ấn định trần lãi suất huy động tiền gửi 14%/ năm, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước khẳng định, việc xác định trần lãi suất này đã được cân nhắc kỹ, đảm bảo sự hài hòa lợi ích của các bên tham gia thị trường tiền tệ.

    “Chúng tôi không đặt vấn đề lợi cho ngân hàng nào. Nếu lợi cho ngân hàng nhỏ mà lại thiệt cho ngân hàng lớn thì có nên chăng? Mặt khác, tôi tin rằng, ngân hàng nhỏ nhưng hoạt động tài chính lành mạnh thì cũng không gặp khó khăn gì với quy định này” - Thống đốc Nguyễn Văn Bình nói.

    Về đề nghị áp dụng trần lãi suất cho vay ra thay vì trần lãi suất huy động của đại biểu Thân Đức Nam (Đà Nẵng) và một số đại biểu khác, Thống đốc Nguyễn Văn Bình cho biết, theo quan điểm của Ngân hàng Nhà nước, trong điều kiện của Việt Nam, việc điều hành bằng trần lãi suất huy động sẽ hiệu quả hơn, bởi quy định trần lãi suất cho vay sẽ dẫn đến hiện tượng cào bằng lãi suất cho vay, không phân biệt đối tượng vay, không khuyến khích được những lĩnh vực, đối tượng cần ưu tiên…

    Liên quan đến lời “phàn nàn” của các đại biểu Thân Đức Nam, Đặng Thị Hoàng Yến (Long An) về tình trạng doanh nghiệp khó tiếp cận vốn, chính sách tiền tệ, tín dụng bị thắt quá chặt nên tín dụng từ đầu năm đến nay mới chỉ tăng trưởng khoảng một nửa chỉ tiêu cho phép (9-10% so với 20%)…, Thống đốc Nguyễn Văn Bình giải trình rằng: chính sách tiền tệ phải đảm bảo cân đối thực hiện cả hai mục tiêu: chống lạm phát và chống suy thoái. Ông nhắc lại hình ảnh “người đi trên dây”, nghiêng quá về bên nào hậu quả cũng khôn lường.

    Tuy nhiên, việc điều hành lãi suất của Ngân hàng Nhà nước đã chuyển từ chỗ chạy theo thị trường sang dẫn dắt thị trường, Thống đốc khẳng định. Lợi nhuận của ngân hàng thương mại hiện nay cũng ở mức hợp lý chứ không quá cao như có đại biểu phản ánh.

    “So với tổng tài sản quản lý của một ngân hàng ở mức trung bình khoảng 50-60 chục ngàn tỷ đồng thì lãi ra 1.000 đến 2.000 tỷ đồng/ năm cũng là thấp. Lợi nhuận của ngân hàng đứng thứ 15 trong các nhóm doanh nghiệp ở nước ta, nghĩa là ở mức trung bình. Giá cổ phiếu của các tín dụng cũng ở mức thấp, chứng tỏ họ không lãi “khủng” như nhiều người nghĩ”, ông Bình giải thích cặn kẽ.

    Về việc doanh nghiệp khó tiếp cận vốn vay, Thống đốc nói, vấn đề chính không phải là thiếu vốn mà là phải thực hiện mục tiêu khống chế tăng trưởng tín dụng để kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên, những doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả nhất định sẽ được vay vốn. “Chúng tôi có tới khoảng 10kg tài liệu hồ sơ của các doanh nghiệp được vay vốn từ đầu năm đến nay” – Thống đốc cung cấp thông tin cho đại biểu Đặng Thị Hoàng Yến.

    Đáng lưu ý, Thống đốc cho hay, trong 6 tháng đầu năm 2011, hàng ngàn cuộc thanh tra, kiểm tra đã được Ngân hàng Nhà nước tiến hành, nhưng chưa phát hiện được trường hợp nào vi phạm.

    Thực tế này khiến đại biểu Huỳnh Thế Kỳ (Ninh Thuận) bức xúc: “Thống đốc có yên tâm với kết quả thanh tra như thế? Các ngân hàng lén lút vi phạm, vừa là mất người (cán bộ tiêu cực), mất tiền, mất của, mất uy tín trước nhân dân. Nếu thanh tra các ngành khác phát hiện ra thì ông chịu trách nhiệm thế nào”?

    Đại biểu Huỳnh Thế Kỳ (Ninh Thuận). Ảnh: Minh Điền

    Trả lời đại biểu, ông Nguyễn Văn Bình thừa nhận, hoạt động thanh tra giám sát của Ngân hàng Nhà nước vừa qua là yếu kém. Lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước đã kiểm điểm sâu sắc, từ tháng 9 trở lại đây đã liên tiếp phát hiện, xử lý nghiêm khắc các trường hợp vi phạm, lấy lại niềm tin của Đảng, nhà nước, nhân dân.

    Liên quan đến câu hỏi của đại biểu Trần Du Lịch (TPHCM) về chủ trương có theo đuổi lãi suất thực dương hay không, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước bày tỏ quan điểm: “Chính sách lãi suất không phụ thuộc ý kiến chủ quan của Ngân hàng Nhà nước mà phải dựa vào tình hình kinh tế vĩ mô, nên phải có sự điều chỉnh linh hoạt trong từng giai đoạn khác nhau. Nhưng trong mọi kịch bản, chúng tôi sẽ công bố rõ ràng để người dân và doanh nghiệp được biết”.

    Ông Bình nói thêm, hiện nay lạm phát giảm là tiền đề cơ bản để giảm lãi suất trong thời gian tới, giúp doanh nghiệp vay được vốn dễ dàng hơn.

    Vàng miếng SJC là thương hiệu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

    Nhìn nhận rằng khung pháp lý cho hoạt động sản xuất, kinh doanh vàng nói chung còn nhiều bất cập, Thống đốc cho biết sẽ có nhiều điều chỉnh, bổ sung chính sách trong thời gian tới theo hướng khuyến khích sản xuất, chế tác vàng trang sức. Riêng vàng miếng, Nhà nước sẽ độc quyền sản xuất, kinh doanh. Việc này có thể ảnh hưởng đến lợi ích của một số đối tượng, nhưng là cần thiết, vì lợi ích chung của quốc gia.

    Hiện tại, SJC đang chiếm 90% thị trường vàng miếng, đây là công ty của nhà nước, tới đây sẽ trực thuộc Ngân hàng Nhà nước. Để tiết kiệm được chi phí (hàng trăm tấn vàng miếng đã được sản xuất dưới thương hiệu SJC), trước mắt Ngân hàng Nhà nước sẽ sử dụng thương hiệu SJC, nhưng đến thời điểm thích hợp sẽ đổi thành SBV.

    Kết thúc phần chất vấn với Thống đốc Nguyễn Văn Bình, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng nhận xét, Thống đốc đã trả lời với thái độ thẳng thắn, khẳng khái nhận trách nhiệm, nêu rõ ràng giải pháp…

    Từ 10h sáng nay, 25-11, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã trả lời chất vấn của các đại biểu Quốc hội - chốt lại phiên chất vấn các thành viên Chính phủ tại kỳ họp Quốc hội này.

    Tại Kỳ họp này, đã có 77 đại biểu Quốc hội gửi 145 phiếu chất vấn với 237 câu hỏi đến Thủ tướng và các thành viên Chính phủ; trong đó, có 8 phiếu với 11 câu hỏi chất vấn Thủ tướng. Hai ngày qua đã có 5 bộ trưởng trực tiếp và 2 Phó Thủ tướng cùng 6 Bộ trưởng tham gia trả lời chất vấn tại Hội trường.

    Mở đầu phần trả lời, Thủ tướng đã giải trình những vấn đề mà đại biểu chất vấn các thành viên Chính phủ mấy ngày qua cũng là những trọng tâm mà Chính phủ tập trung điều hành trong thời gian tới.

    Sau phát biểu giải trình, Thủ tướng trả lời chất vấn. Có 22 đại biểu muốn chất vấn, tuy nhiên thời gian chỉ có hơn 1 tiếng. Chủ tịch Quốc hội đã điều hành linh hoạt, để tất cả các đại biểu nêu câu hỏi, sau đó Thủ tướng trả lời.

    Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Ảnh: Minh Điền

    Toàn văn Báo cáo giải trình và trả lời chất vấn của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

    Về những thuận lợi, khó khăn của tình hình kinh tế - xã hội 11 tháng của năm 2011, Thủ tướng cho rằng những khó khăn hiện nay (lạm phát, nhiều công trình dở dang, nợ xấu ngân hàng, mất việc gia tăng, diễn biến khó lường của kinh tế thế giới...) nếu không được giải quyết sẽ tác động tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế. Điều đó đòi hỏi phải kiên định các giải pháp đã đề ra.

    Về kinh tế vĩ mô, Thủ tướng cho rằng với điều hành quyết liệt, CPI đã có xu hướng chậm lại, mục tiêu kiềm chế lạm phát khoảng 18% trong năm 2011 là thực hiện được. Năm 2012 tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa chặt chẽ. Thủ tướng đề nghị Quốc hội ủng hộ thực hiện cơ chế giá thị trường đối với điện, than, xăng dầu đồng thời có chính sách hỗ trợ đối tượng khó khăn. Các mặt hàng này sẽ phải công khai, minh bạch về giá.

    Về tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất, kinh doanh, Thủ tướng cho biết năm 2012 tập trung kiềm chế lạm phát, đưa lạm phát 2012 về 1 con số; tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận vốn. Chính phủ sẽ kéo dài thời gian hỗ trợ thuế cho các doanh nghiệp.

    Về tái cơ cấu kinh tế, Thủ tướng cũng khẳng định sẽ tập trung tái cơ cấu đầu tư công theo hướng cắt giảm đầu tư công. Khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, kém hiệu quả, rà soát lại quy định phân cấp về đầu tư. Mở rộng thu hút đầu tư của xã hội, nước ngoài. Sắp xếp dự án theo thứ tự ưu tiên để bố trí vốn đối ứng. Không khuyến khích các dự án có sử dụng nhiều lao động giá rẻ, tiêu tốn nhiều năng lượng. Chính phủ sẽ khẩn trương chuẩn bị dự án Luật Đầu tư công, sửa Luật Ngân sách.

    Về cơ cấu lại doanh nghiệp Nhà nước, trọng tâm là các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước. Thủ tướng khẳng định đây là một trong 3 nội dung để cơ cấu lại nền kinh tế, là yêu cầu cấp bách. Sẽ có đề án Cơ cấu lại từng tập đoàn ngay trong năm 2012. Các tập đoàn chỉ tập trung hoạt động trong lĩnh vực chính, thực hiện thoái vốn đầu tư ngoài ngành trước 2015. Thực hiện công khai minh bạch hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, đặt doanh nghiệp nhà nước vào môi trường cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp khác, kiểm soát có hiệu quả độc quyền Nhà nước. Chính phủ quyến tâm làm, vừa làm vừa rút kinh nghiệm.

    Về cơ cấu Ngân hàng, Thủ tướng khẳng định quyết tâm tái cơ cấu, không để tồn tại ngân hàng yếu kém. Chính phủ đang chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước xây dựng cơ cấu toàn hệ thống ngân hàng. Thực hiện cổ phần hóa các ngân hàng thương mại Nhà nước. Hoàn thiện thể chế để các ngân hàng thương mại cổ phần hoạt động mạnh, thực sự là ngân hàng đại chúng. Có phương án xử lý cụ thể để giảm nhanh các ngân hàng yếu kém với chi phí thấp nhất nhưng bảo đảm an toàn hệ thống, bảo đảm quyền lợi của người dân, xử lý nghiêm các sai phạm. Việc thành lập các ngân hàng mới, các tổ chức tín dụng sẽ được thẩm định chặt chẽ. Cùng với đó, cũng cơ cấu lại các thị trường khác như chứng khoán, bất động sản.

    Cả 3 nội dung tái cơ cấu trên sẽ được thực hiện đồng bộ. Chính phủ sẽ trình Quốc hội đề án Cơ cấu tổng thể nền kinh tế tại kỳ họp tới.

    Về nông nghiệp, nông thôn, Thủ tướng khẳng định Đảng, Nhà nước đã có nhiều chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn. Ngân sách Nhà nước, trái phiếu Chính phủ dành cho nông nghiệp nông thôn rất lớn. Tuy nhiên, bố trí vốn, thu hút vốn vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế, nhu cầu. Trong thời gian tới, sẽ tiếp tục quan tâm tăng đầu tư từ ngân sách và trái phiếu Chính phủ cho nông nghiệp, nông thôn. Chính phủ sẽ trình Quốc hội Kế hoạch đầu tư phát triển 3 năm 2013 - 2015, nếu kế hoạch này được thông qua thì sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (2009 - 2013) tổng vốn ngân sách nhà nước và trái phiếu Chính phủ bố trí cho nông nghiệp, nông thôn đạt khoảng 500.000 tỷ đồng, gấp 2,76 lần so với 5 năm 2004 - 2008, vượt mục tiêu Nghị quyết Trung ương 7 đề ra. Chương trình xây dựng nông thôn mới sẽ được tập trung chỉ đạo thực hiện, bố trí nguồn lực thích hợp.

    Về các vấn đề xã hội, Thủ tướng trân trọng đề nghị Quốc hội ra Nghị quyết về giải quyết tai nạn giao thông, ùn tắc giao thông để huy động tổng lực kiềm chế “quốc nạn” này. Chính phủ cũng chú trọng vấn đề giải quyết vấn đề việc làm, giảm nghèo. Riêng với những người nghèo lười lao động cùng với hỗ trợ phải giáo dục, giám sát.

    Yêu cầu bảo đảm tự do, an toàn cho hàng hải ở Biển Đông

    Đại biểu Lê Bộ Lĩnh (An Giang) chất vấn Thủ tướng: Giải trình của Thủ tướng chưa đề cập đến vấn đề chủ quyển Biển Đông. Xin hỏi Thủ tướng những giải pháp cụ thể để bảo vệ chủ quyền biển bảo?

    Trả lời câu này, Thủ tướng cho biết, quán triệt đường lối đối ngoại hòa bình hữu nghị, độc lập tự chủ và chủ quyền quốc gia của Đảng, Nhà nước ta; trên cơ sở Luật pháp quốc tế nhất là Công ước Luật biển 1982 của Liên hợp quốc, Tuyên bố ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) đã ký giữa ASEAN và Trung Quốc; căn cứ vào Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết những vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc mới ký trong chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đến Trung Quốc vừa qua. Căn cứ trên đó chúng ta phải giải quyết và khẳng định chủ quyền đối với 4 loại vấn đề trên Biển Đông.

    Thứ nhất, đàm phán với Trung Quốc để phân định ranh giới vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc bộ. Trong cửa Vịnh Bắc bộ, sau nhiều năm đàm phán hai bên đã đạt được thỏa thuận phân định ranh giới vào năm 2000. Còn vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc bộ, nếu theo Công ước Luật biển 1982 của Liên hợp quốc thì thềm lục địa của Việt Nam có chồng lấn với đảo Hải Nam của Trung Quốc. Từ 2006, 2 bên đã tiến hành đám phán, năm 2009 thì tạm dừng vì lập trường hai bên quá khác nhau. Đến 2010, 2 bên thỏa thuận nên tiến hành đám phán những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển.

    Sau nhiều vòng đàm phán, nguyên tắc này đã được 2 bên ký kết trong chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vừa qua. Trên nguyên tắc này, vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc bộ là quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, vì vậy 2 bên cùng nhau đàm phán để phân định ranh giới vùng biển này trên cơ sở Công ước Luật biển 1982, DOC, các nguyên tắc đã có để có giải pháp hợp lý mà 2 bên có thể chấp nhận được. Chúng ta đang thúc đẩy với Trung Quốc để xúc tiến đám phán giải quyết việc phân định này. Trong khi chưa phân định, trên thực tế, với chừng mực khác nhau, 2 bên đã tự hình thành vùng quản lý của mình trên cơ sở đường trung tuyến. Trên cơ sở đó chúng ta có đối thoại với Trung Quốc để bảo đảm an ninh, an toàn của ngư dân.

    Thứ hai, chúng ta phải giải quyết và khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa. Việt Nam có đủ căn cứ về pháp lý và lịch sử để khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chúng ta đã làm chủ thực sự từ thế kỷ 17, khi 2 quần đảo này chưa thuộc bất cứ quốc gia nào.

    “Lập trường nhất quán của chúng ta là quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam, chúng ta có đủ căn cứ pháp lý, lịch sử để khẳng định điều đó. Nhưng chúng ta chủ trương đàm phán giải quyết, đòi hỏi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc, phù hợp với Công ước Luật biển, DOC.

    Thứ ba, là đối với quần đảo Trường Sa. Năm 1975, hải quân Việt Nam đã tiếp quản 5 hòn đảo tại Trường Sa bao gồm: đảo Trường Sa, Song Tử Tây, Sơn Ca, Niêm Yết, Sinh Tồn. Sau đó, với chủ quyền của chúng ta, chúng ta tiếp tục mở rộng thêm lên 21 đảo với 33 điểm đóng quân. Chúng ta xây dựng thêm 15 nhà giàn để khẳng định chủ quyền của chúng ta ở vùng biển trong phạm vi 200 hải lý thuộc vùng lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

    Trong khi đó, tại quần đảo Trường Sa, Trung Quốc cũng chiếm 77 đá ngầm, Đài Loan chiếm 1 đảo nổi, Philippnies chiếm 9 đảo, Malaysia chiếm 5 đảo, Brunei cũng đòi hỏi chủ quyền trên vùng biển nhưng không chiếm giữ đảo nào. Như vậy, trên quần đảo Trường Sa, Việt Nam là quốc gia có số đảo đang đóng giữ nhiều nhất so với các quốc gia và các bên có đòi hỏi chủ quyền ở quân đảo Trường Sa. Việt Nam cũng là quốc gia duy nhất có cư dân đang làm ăn sinh sống tại một số đảo mà chúng ta đang nắm giữ (21 hộ với 80 khẩu, trong đó 6 khẩu sinh ra và lớn lên tại đảo).

    Chủ trương của Việt Nam là nghiêm túc thực hiện Công ước Luật biển, DOC và nguyên tắc thỏa thuận mà 2 bên vừa ký trong chuyến thăm vừa qua của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Chúng ta yêu cầu các bên giữ nguyên hiện trạng, không làm phức tạp thêm tình hình, ảnh hưởng đến hòa bình ở khu vực này. Bên cạnh đó, chúng ta tiếp tục đầu tư nâng cấp hạ tầng xã hội, cơ sở vật chất những nơi chúng ta đang nắm giữ (đường sá, điện, trường học, trạm xá...) để cải thiện đời sống và tăng cường khả năng tự vệ của quân dân đảo Trường Sa. Chúng ta cũng có cơ chế chính sách (hiện đã có, đang đánh giá, sơ kết) để hỗ trợ ngư dân khai thác và thực hiện chủ quyền tại quần đảo này.

    Việt Nam nghiêm túc thực hiện và yêu cầu các bên thực hiện đúng Công ước Luật biển, DOC, bảo đảm tự do, an toàn cho hàng hải ở Biển Đông. Vì đó là lợi ích, là mong muốn của tất cả các bên liên quan, vì tuyến đường này chiếm 50-60% tổng lượng hàng hóa từ Đông sang Tây.

    “Lập trường này

    Nguồn SGGP: http://sggp.org.vn/chinhtri/2011/11/274393/