Họa sĩ Quách Đại Hải: Sống hồn nhiên như cây cỏ

Hồi cuối năm 1979, tôi mới về báo Quân Đội nhân dân, lên Mỏ Chén sát sân bay Hòa Lạc, Sơn Tây để trồng sắn cho đủ chỉ tiêu tăng gia tự túc. Quách Đại Hải là họa sĩ của Xưởng Họa quân đội cũng thuộc cơ quan Tổng cục Chính trị cùng đi chuyến ấy (Sau này cấp trên thấy cách tăng gia như thế áp dụng cho các đơn vị đóng ở thành phố thì không thích hợp, không kinh tế nên đã bãi bỏ). Cũng nhờ lần tăng gia ấy tôi đã có thêm một người bạn gắn bó nhiều năm sau này.

Họa sĩ Quách Đại Hải: Sống hồn nhiên như cây cỏ - Ảnh 1

Chân dung Quách Đại Hải - Tranh sơn dầu do một bạn học người Nga
tại trường V.Surikov vẽ tặng, khi tiễn anh về nước giữa năm 1978.

Ấn tượng đầu tiên khi gặp Quách Đại Hải là anh sức vóc lẻo khẻo, nhưng cuốc đất rất hăng, đặt hom sắn thoăn thoắt, tôi bên anh theo không kịp. Anh cười ngoái nhìn tôi, hỏi: Chắc ông chưa từng trồng sắn ở Trường Sơn? Hải có cái miệng cười tươi và hóm. Tôi lắc đầu: Chưa! Và hỏi lại: Chắc ông họa sĩ của Binh đoàn Trường Sơn về? Không-Hải trả lời- Mình lính của “Hùm xám” Sùng Lãm, Sư trưởng Sư 320 B. Sau mỗi chiến dịch lính chết vợi, cả sư rút lên núi bổ sung quân. Đói rạc dài. Bọn mình lên rãy nhổ sắn của giao liên Đoàn 559 trồng mùa trước, rồi giâm hom lại cho người đến năm sau thu hoạch tiếp. Bởi thế thạo “chuyên môn” này. Hỏi thêm mới biết, chàng họa sĩ lẻo khẻo mà đủ sức trụ được ở thành cổ Quảng Trị trong “Mùa hè đỏ lửa” năm 1972. Cái số mình hơi cao đấy- Hải bảo- Có lần mình đi đầu, cậu đi sau có mấy mét bị trúng phát cối cá nhân Mỹ; mình đi sau thì cậu ở trước bất ngờ trúng một viên đạn lạc. Vào trận không nói mạnh được, ông ạ. Lúc Tổng cục Chính trị gọi ra cho đi học tiếng Nga thì mình đang dính sốt rét, còn chưa đầy bốn mươi ký…

Giờ nghỉ giải lao. Hải kiếm ngay được củ sắn bự nhổ ở bờ rào trồng từ mấy vụ trước. Anh liền móc trong túi quần ra chùm chìa khóa có con dao bé xíu, khía củ sắn một nhát dọc, roạt một cái là lột được vỏ, củ trắng bong. Đoạn anh lại móc túi quần bên kia ra một mẩu báo cũ, bọc kín củ sắn vùi vào đống tro đang nóng hổi. Thấy tôi tò mò quan sát anh thao tác, anh lại toét cười bảo là, lính chiến đến đâu đều có dự phòng trước mọi tình huống nên không bị động bao giờ. Lát sau anh khui sắn ra, báo đã cháy hết, vỏ sắn vàng ươm nom rất hấp dẫn. Anh bẻ mời mọi người. Bỗng có con chấu voi từ đâu bay lại đậu vào thân cây sắn vừa nhổ. Anh nhanh tay chộp, bóp bẹp đầu, vặt nghiến hai cánh vứt đi và cho ngay con chấu lên cục than hồng, giây lát mỡ sôi sèo sèo tỏa mùi ngầy ngậy. Anh lấy con chấu ra, xuýt xoa khen ngon. Không hiểu sao, anh đưa cả con mời tôi: Bác thử món đặc sản đồng quê. Tôi tuy hồi bé ở quê cũng kiếm cua cá ngoài đồng đủ kiểu, nhưng chưa bao giờ chén chấu voi nướng, nên từ chối. Hải bảo, mình thì cào cào, châu chấu, bọ xít, trứng thối xơi tất. Nói rồi anh liền bấu phần đuôi con chấu nướng, rút ra lòng thòng một sợi dài, nom hãi hùng. Anh nói, ruột chứ không phải dun, sán đâu mà sợ. Và đút tọt cả đám vào miệng nhai ngon lành (Về sau, tôi có bà mẹ vợ nhà ở cạnh ga Hàng Cỏ, Hà Nội chuyên buôn trứng vịt chở từ Ninh Bình mỗi bận hàng vạn quả, thể nào cũng loại ra đầy một rá trứng ung, là chỗ thân tình anh thường được bà “ưu ái” để phần chỗ ấy). Mới quen nhau, trước hết thấy mến, thấy thích bởi Hải sống tự nhiên, dân dã như thế! Anh cùng tuổi với tôi (sinh năm 1948), vốn học trung cấp hội họa ra trường năm 1969, làm họa sĩ trang trí sân khấu của đoàn chèo Ninh Bình, đến tháng 5-1971 nhập ngũ. Huấn luyện tân binh 3 tháng ở Bắc rồi vào ngay chiến trường Quảng Trị, nơi ngày đó đài, báo ta, địch đều gọi là “cối xay thịt”. Lại nói thêm về chuyện ăn uống của Quách họa sĩ. Tuy bạo ăn là vậy, nhưng sau này tôi biết anh có thói quen không bao giờ ăn đường, mật ong. Chả là, một lần Quách Đại Hải hành quân, có cân đường đỏ để trong ba lô bị bục ra, đường chảy nước do sức nóng của cơ thể, quyện với mồ hôi thấm đầy lưng áo suốt chặng dài, thế là từ đó cái cảm giác nhớp nhúa, dấp dính ấy cứ ám ảnh làm anh hễ thấy đường, mật, kể cả kẹo bánh là ngán ngẩm, không sao nuốt nổi.

Sau ngày nước nhà thống nhất, do có thành tích chiến đấu, Quách Đại Hải được Tổng cục Chính trị chọn đi Liên Xô, học tại Học viện mỹ thuật mang tên danh họa Nga V.Surikov. Khóa học 5 năm, đến năm thứ ba thì anh gặp một sự cố “vớ vẩn”, người quản lý đoàn hiểu lầm về nhân cách của anh mà không sao thanh minh được, anh phải bỏ học dở chừng về nước. Anh kể với tôi: Mình nản quá, về văn phòng Tổng cục Chính trị trình diện, cứ tưởng sẽ phải kỷ luật ra quân. Chánh văn phòng Tổng cục lúc đó là Thiếu tướng Chu Tự Di, vốn là thủ trưởng cũ hồi ở Sư 320B. Ông biết chuyện, an ủi: Một lính chiến đã được thử thách như cậu, mình không tin lại làm điều hại đến danh dự quân nhân. Cậu cứ yên tâm công tác, sẽ còn điều kiện học lên. Trước mắt biên chế cậu vào Xưởng Họa quân đội.

Ngày ấy Xưởng Họa quân đội đóng ở Vân Hồ 3, gồm toàn những họa sĩ gạo cội, thành danh từ thời chống Pháp có: Quang Thọ, Văn Đa, Huy Toàn, Dương Viên, Phạm Thanh Tâm…Trưởng thành trong chống Mỹ, cùng lứa với Quách Đại Hải có: Tạ Quang Bạo, Mai Văn Kế, Nguyễn Cương, Minh Đỉnh, Trịnh Dân, Phạm Lực, Phạm Việt, Đỗ Sơn…Anh được phong hàm sĩ quan chuyên nghiệp. Năm 1982 Tổng cục cử anh sang Campuchia và Lào làm chuyên gia văn hóa cho quân đội bạn. Đây là quãng thời gian chất nghệ sĩ thăng hoa nhất, anh mê mải vẽ tại mặt trận, tại các buôn, sóc và có vài trăm phác thảo, ký họa làm vốn cho việc xây dựng tác phẩm sau này. Ở thủ đô Phnom Pênh trước khi về nước, anh cùng hai họa sĩ quân đội là Công Độ và Mai Văn Kế trình làng một cuộc triển lãm hội họa rất được bạn ngợi khen. Đến năm 1989, Tổng cục không có kinh phí để nuôi, Xưởng Họa giải thể, số lớn tuổi về hưu, còn lại dồn cả sang Bảo tàng Quân đội, riêng Quách Đại Hải được nhà văn Nguyễn Trí Huân, tổng biên tập Văn nghệ quân đội, nhà sát vách ở Vân Hồ 3 là chỗ thân tình, kéo về làm họa sĩ chính cho tờ tạp chí.

Họa sĩ Quách Đại Hải: Sống hồn nhiên như cây cỏ - Ảnh 2

Vợ chồng họa sĩ Quách Đại Hải (Năm 2002).

Trong phòng khách căn nhà hình ống của anh trên tường treo kín tranh, toàn một thể loại lụa mầu. Học ở nước ngoài về sơn dầu, anh lại chọn chất liệu truyền thống Việt Nam là lụa. Tôi không sành hội họa lắm, nhưng thấy tranh anh quả có phong cách riêng, không giống các bậc thầy về lụa nước ta như Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Thụ, Lê Lam…mà tôi đã từng được xem tranh ở Bảo tàng Mỹ thuật quốc gia. Các vị trên đều tận dụng triệt để ưu thế của chất liệu mà có cách thể hiện khá giống nhau, thường hay dùng gam mầu mỏng nhẹ tạo nên sự mờ ảo, còn tạo hình nhân vật thì tròn trĩnh, vờn nét gọn và thanh. Quách Đại Hải khác. Anh cố tình làm đậm mảng mầu, bố cục dồn nén và tạo ra những đường viền mờ tự nhiên quanh nhân vật, mà nhân vật nào cũng được “bóp” cho gồ gề, góc cạnh. Nom tranh anh khỏe khoắn, có cá tính, vẫn không mất đi cái nhụy từ thớ lụa hiện lên. Đấy là bút pháp chủ yếu khi vẽ người lính, nông dân, công nhân, nhà sư… Còn các cô gái của đất nước Chùa tháp hay của xứ sở hoa Champa bao giờ cũng một “phom” phốp pháp, phồn thực. Anh bảo tôi: Mình xấu dây, tốt củ, thích trường phái “phong nhũ phì đồn”. Song nếu muốn hiểu sâu nữa, bình phẩm nghệ thuật của anh, có đủ sức thuyết phục được thẩm mỹ thị giác của người xem, của đồng nghiệp hay không thì còn phải bàn dài dài trong một dịp khác. Thật mừng, từ những năm giữa thập niên 80 thế kỷ XX, tranh anh đã có giải thưởng chính thức, được nhiều bảo tàng và cá nhân, chủ yếu là người nước ngoài mua. Tác phẩm Một bức phù điêu nhận giải xuất sắc của Bộ Quốc phòng năm 1989; Vòng hoa Samakhi Bảo tàng quốc gia Campuchia mua; Bức họa nhà sư Bảo tàng quân đội Việt Nam mua; Ống đường thốt nốt, Người công dân mới, Mùa xoài, Chia tay được trưng bày trong triển lãm mỹ thuật toàn quốc các năm 1985, 1990, 1995… Có được ngần ấy thứ, cũng là đủ cho một đời nghệ sĩ sáng tạo rồi!

Một dạo ở tạp chí Văn nghệ quân đội, anh em có câu giễu vui, với thi sĩ Duy Khán thì “Cẩn thận, bác ấy toàn cồn, bật diêm bên cạnh là bén lửa cháy bùng”; với anh thì “Nom người Quách tiên sinh trong suốt toàn chất cồn”(!) Có lúc tôi cũng lây sự ham vui của anh. Một lần vào Vân Hồ 3 thăm anh, tôi tửu lượng thấp uống có mấy chén đã say mèm. Thế là đang nửa đêm nhất quyết mở cửa đòi về. Con chó của đôi vợ chồng họa sĩ Bằng Lâm-Mai San ở nhà đối diện nhẩy ra định đợp, tôi nổi xung, sẵn tảng thạch cao đang dựng tượng đài của nhà điêu khắc Tạ Quang Bạo, tôi bê lên táng trúng làm khuyển ta kêu ăng ẳng. Đáng lẽ chỉ nên dừng lại ở đấy, trong cơn “phừng phừng”, tôi lại cứ nhắm cửa nhà chủ của chú khuyển ném tiếp, may mà vợ chồng họa sĩ “thông cảm”, để yên cho thạch cao đập bùm bụp một hồi. Hải tửu lượng cao, còn tỉnh táo liền nhất quyết giữ tôi lại đến sáng mới cho về. Lần sau đến, vẫn là nụ cười hóm, anh bảo: Con chó của Bằng Lâm dữ tợn là vậy, mà thấy bóng ông từ cổng đã chạy mất dép! Một dạo trên cơ quan, cứ buổi trưa là anh và bác Duy Khán kéo nhau ra quán gần đấy nhấm nháp chén rượu làng Vân với mấy củ lạc rang, trở về ai cũng lử đử, chân nam đá chân chiêu. Có lần anh không về buồng mình mà tiện chân ra hội trường ngủ khì, đúng hôm họp cơ quan đầu giờ chiều, các nhà văn không tiện đánh thức, cứ để anh ngẹo đầu ngáy khò khò. Có phải vì thế mà sau này anh bị đánh giá không chuẩn về “tác phong”, khi nghỉ hưu năm 2002, sau 31 năm đời lính trước khi về vẫn không chuyển ngạch, chỉ trung tá chuyên nghiệp? Song tôi không nghe anh nhắc đến chuyện quân hàm bao giờ (Khi anh qua đời, tôi có viết một bài viếng anh đăng trên báo Quân đội nhân dân, cứ nghĩ anh đã được đeo quân hàm thượng tá, kịch trần đối với sĩ quan chuyên nghiệp rồi). Trương Thị Quy, người vợ xinh đẹp, thảo hiền thì chẳng bao giờ biết lương hưu của chồng là bao nhiêu, chỉ hay nhắc nhở anh nên cai rượu để giữ sức khỏe. Nể vợ, những năm cuối đời, anh thay rượu bằng bia, mà là “bia cỏ” cho đỡ tiền. Buổi chiều anh đi tập thể dục ở công viên Thống Nhất về, thể nào cũng tráng miệng đôi vại. Mỗi lần tôi đến thăm, bao giờ anh cũng kéo ra cái quán nhỏ ấy, chỉ gọi đồ nhắm cho tôi chứ anh không động đến tí nào, bảo hàm mình “quét” sạch bộ nhá rồi. Và bao giờ anh cũng tranh trả tiền.

Thế rồi một ngày cuối tháng 2-2011, tôi nghe tin anh mới nằm Viện quân y 108 về, đến thăm, thấy anh gầy xanh hơn, các khớp lại xưng không đi lại được bình thường. Tiễn tôi, anh cố lê bước ra tận cổng, đứng dựa vào tường nhìn theo với ánh mắt buồn buồn. Ai ngờ, đó là lần cuối cùng. Hai ngày sau, tôi nghe điện thoại giọng chị Quy nghẹn ngào: Anh Đẩu ơi, nhà em đi rồi! (Ai ngờ, chỉ 3 năm sau chị cũng đi theo anh về thế giới bên kia bởi chính căn bệnh ung thư như anh, hai cháu Cương, Cường dẫu đã trưởng thành, có gia đình riêng, đến giờ còn chưa hết ngơ ngác, tiếc thương).

Nhà thơ Anh Ngọc từng nhiều năm ở Văn nghệ quân đội, hôm đưa tiễn họa sĩ Quách Đại Hải ở nhà tang lễ Bộ Quốc phòng, đã nói với tôi: Anh ấy là người sống hồn nhiên như cây cỏ!

Phạm Quang Đẩu