Giao xe cho vị thành niên gây tai nạn chết người có bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

Ngày 307, Hoàng Văn H. (17 tuổi) hàng xóm của gia đình anh Nguyễn Văn T. có mượn xe của anh T. (loại xe có dung tích xilanh trên 50cm3) để đi chợ.

Giao xe cho vị thành niên gây tai nạn chết người có bị truy cứu trách nhiệm hình sự? - Ảnh 1

(Ảnh minh họa)

Nội dung vụ việc

Vì nghĩ là chỉ đi một quãng đường ngắn nên anh T. đã đồng ý cho H. mượn dù biết là H. chưa đủ tuổi để tham gia giao thông. Tuy nhiên, hôm đó khi điều khiển chiếc xe máy của anh T., H. đã đâm phải một người đi xe đạp ngược chiều khiến người này bị ngã đập đầu xuống đường, dẫn đến tử vong.

Vấn đề cần đặt ra là hành vi cho Hoàng Văn H. mượn xe gây tai nạn chết người của anh Nguyễn Văn T. có bị truy cứu trách nhiệm hình sự? Nếu có, anh T. đã phạm tội gì?

Ý kiến bạn đọc

Không phạm tội

Trong vụ việc này anh Nguyễn Văn T. không phạm tội. Việc Hoàng Văn H. gây tai nạn khiến người đi xe đạp ngã đập đầu xuống đường dẫn đến tử vong thì cần phải truy cứu trách nhiệm của Hoàng Văn H. Anh Nguyễn Văn T. không phải là người điều khiển phương tiện, không trực tiếp gây ra vụ tai nạn nên anh T. không phải chịu trách nhiệm.

Ở đây việc anh T. cho Hoàng Văn H. mượn xe một phần là vì H. là hàng xóm của anh T. nên anh T. đã biết rõ H. có khả năng điều khiển được phương tiện, một phần khác là quãng đường từ nhà ra chợ ngắn nên H. có thể xử lý được. Tôi cho rằng anh T. do quá tin tưởng H. nên mới cho mượn xe. Vì vậy, không nên đặt vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh Nguyễn Văn T.

Vũ Thúy Hải (Vân Đồn - Quảng Ninh)

Chỉ bị xử phạt hành chính

Theo nội dung vụ việc, anh Nguyễn Văn T. biết rõ Hoàng Văn H. chưa đủ tuổi để tham gia giao thông nhưng vẫn giao xe máy cho T. mượn để  rồi H. đã gây ra tai nạn. Tôi cho rằng, việc làm của anh Nguyễn Văn T. chỉ vi phạm hành chính và sẽ bị xử phạt theo quy định tại Nghị định số 46/2016/NĐ-CP.

Mức phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 1.600.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với tổ chức giao xe hoặc để cho người không đủ điều kiện về độ tuổi của người lái xe theo Luật Giao thông đường bộ điều khiển xe tham gia giao thông. Còn việc Hoàng Văn H. gây ra tai nạn thì cần phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với riêng Hoàng Văn H., anh T. không có trách nhiệm liên quan.

Nguyễn Tuấn Hùng (Tiên Lữ - Hưng Yên)

Phạm tội hình sự

Tôi cho rằng, xe máy là nguồn nguy hiểm cao độ. Theo quy định của pháp luật, những người điều khiển xe máy có dung tích động cơ từ 50cm3 trở lên khi tham gia giao thông bắt buộc phải được cấp Giấy phép lái xe. Nếu khi chưa được đào tạo và chưa được cấp Giấy phép lái xe nhưng đã tham gia điều khiển phương tiện, như vậy là vi phạm Luật Giao thông đường bộ.

Còn việc chưa có Giấy phép lái xe nhưng lại gây ra tai nạn dẫn đến chết người là vi phạm Luật Hình sự và phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc người chủ xe máy giao cho người chưa đủ năng lực, trách nhiệm quản lý nguồn nguy hiểm cao độ để rồi sau đó xảy ra tai nạn cũng cần phải bị xử lý trách nhiệm hình sự.

Trần Quốc Thắng (Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc) 

Bình luận của luật sư

Luật Giao thông đường bộ 2008 tại khoản 1, Điều 58 quy định rõ điều kiện để một người lái xe tham gia giao thông là phải đủ độ tuổi, sức khỏe theo luật định và có Giấy phép lái xe phù hợp với loại xe được phép điều khiển do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp.

Về độ tuổi của người lái xe máy, khoản 1, Điều 60 Luật này quy định: Người đủ 16 tuổi trở lên được lái xe gắn máy có dung tích xi-lanh dưới 50cm3. Người đủ 18 tuổi trở lên được lái xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh có dung tích xi-lanh từ 50cm3 trở lên và các loại xe có kết cấu tương tự.

Như vậy, trong trường hợp này, căn cứ theo nội dung vụ việc thì Hoàng Văn H. không đủ điều kiện để sử dụng chiếc xe máy của anh Nguyễn Văn T. tham giao giao thông. Anh Nguyễn Văn T. biết rõ Hoàng Văn H. không đủ điều kiện điều khiển xe máy nhưng vẫn giao xe cho H. điều khiển và sau đó H. đã gây tai nạn chết người.

Như vậy, trong trường hợp này cần phải phân biệt rõ trách nhiệm cũng như việc bồi thường thiệt hại của người chủ sở hữu chiếc xe là Nguyễn Văn T. và người điều khiển phương tiện là Hoàng Văn H.

Thứ nhất, về trách nhiệm của Hoàng Văn H. Như đã nói ở trên, Hoàng Văn H. không đủ điều kiện để tham gia giao thông. Trong quá trình điểu khiển xe máy H. đã đâm phải một người đi xe đạp ngược chiều khiến người này bị ngã đập đầu xuống đường, dẫn đến tử vong. Hoàng Văn H. gây tai nạn khi không có giấy phép lái xe là vi phạm quy định của Luật Giao thông đường bộ.

Trường hợp của Hoàng Văn H. đã đủ dấu hiệu cấu thành tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo quy định tại Điều 202 của Bộ luật Hình sự và sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh này với mức phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm. Phạm tội thuộc khoản 2 thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

Trường hợp của Hoàng Văn H. không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 107 của Bộ luật Tố tụng hình sự (những vụ án về các tội phạm quy định tại khoản 1 các Điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của Bộ luật Hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất). Do vậy, mặc dù gia đình bị hại không yêu cầu khởi tố vụ án nhưng Hoàng Văn H. vẫn bị cơ quan điều tra khởi tố và truy cứu trách nhiệm hình sự.

Thứ hai, về trách nhiệm của chủ xe là anh Nguyễn Văn T. Theo nội dung vụ việc, anh Nguyễn Văn T. đã có hành vi giao xe máy cho Hoàng Văn H., dù biết là H. chưa đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo quy định của pháp luật. Khi tham gia giao thông H. đã gây tai nạn dẫn đến hậu quả chết người. Theo đó trách nhiệm của Nguyễn Văn T. như sau:

Về trách nhiệm hành chính: Cá nhân giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông sẽ bị xử phạt hành chính theo điểm đ, khoản 4, Điều 30 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP:

“4. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 1.600.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

......

đ) Giao xe hoặc để cho người không đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1, Điều 58 của Luật Giao thông đường bộ điều khiển xe tham gia giao thông (bao gồm cả trường hợp người điều khiển phương tiện có Giấy phép lái xe nhưng đã hết hạn sử dụng)”.

Về trách nhiệm hình sự: Việc anh Nguyễn Văn T. đồng ý cho Hoàng Văn H. mượn xe máy dù biết là H. chưa đủ tuổi để tham gia giao thông, tại Điều 205, Bộ luật Hình sự quy định về “Tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ” như sau: “1. Người nào điều động hoặc giao cho người không có giấy phép hoặc bằng lái xe hoặc không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ một năm đến ba năm. 2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm. 3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm. 4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”.

Ngoài ra, căn cứ theo Điều 2, Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIX của Bộ luật Hình sự về các tội phạm xâm phạm trật tự, an toàn giao thông như sau: “1. Gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác hoặc gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại khoản 1, Điều 202 đến Điều 205, Điều 208 đến Điều 215, Điều 217, Điều 220; khoản 2 các Điều 206, 207, 216, 218, 219, 222, 223 Bộ luật Hình sự là một trong các trường hợp sau đây: a) Làm chết một người; b) Gây tổn hại cho sức khỏe của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên...”.

Như vậy, đối chiếu nội dung vụ việc với quy định của pháp luật, anh Nguyễn Văn T. có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về “Tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ” quy định tại khoản 1. Điều 205. Bộ luật Hình sự, với mức phạt tiền từ 3 triệu đồng đến 30 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 1 năm đến 3 năm.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Khoản 1, Điều 584, Bộ luật Dân sự 2015 quy định căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại như sau:

“Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”.

Theo quy định trên, người nào có hành vi xâm phạm tính mạng của người khác thì phải bồi thường thiệt hại. Do đó, anh Nguyễn Văn T. là chủ xe, không phải là người trực tiếp thực hiện hành vi xâm phạm tính mạng người khác thì anh Nguyễn Văn T. sẽ không phải bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại, ai là người gây thiệt hại sẽ có trách nhiệm bồi thường.

Luật sư Đoàn Mạnh Hùng (Văn phòng Luật sư Hùng Mạnh)

PV