Giao cho địa phương quản lý ‘‘xe ôm’’

Chắc chắn những bác tài xe ôm, đa số là người lao động nghèo, thậm chí là những người từ tỉnh lẻ đến làm ăn, sẽ rất trông cậy vào chính quyền...

Bộ trưởng Bộ GTVT vừa ban hành Thông tư Hướng dẫn việc sử dụng xe thô sơ, xe gắn máy, môtô hai bánh, xe môtô 3 bánh và các loại xe tương tự để vận tải hành khách và hàng hóa. Thông tư này hướng dẫn nguyên tắc chung. Những quy định chi tiết, cụ thể về quản lý loại hình dịch vụ này được giao cho UBND các địa phương. Đưa dịch vụ "xe ôm vào trật tự" Tinh thần chung của cơ quan quản lý là: hoạt động vận tải khách, vận tải hàng hóa bằng xe thô sơ, mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự là một loại hình dịch vụ, cần có các quy định, chế tài rằng buộc, nhằm đảm bảo trật tự, an toàn cho người tham gia giao thông, đảm bảo trật tự an toàn chung. Thông tư số 08/2009/TT-BGTVT ngày 23/6/2009 “Hướng dẫn việc sử dụng xe thô sơ, xe gắn máy, xe mô tô 2 bánh, xe mô tô 3 bánh và các loại xe tương tự để vận chuyển hành khách và hàng hóa” của Bộ GTVT là một văn bản hoàn toàn mới. Trước đó chưa có riêng một văn bản pháp lý nào quy định, hướng dẫn về lĩnh vực dịch vụ này. Thông tư này hướng dẫn nguyên tắc chung. Những quy định chi tiết, cụ thể về quản lý loại hình dịch vụ này được giao cho UBND các địa phương. Theo đó, người điều khiển phương tiện phải bảo đảm quy định tại Điều 58 và Điều 63 Luật Giao thông đường bộ; phải trang bị mũ bảo hiểm cho hành khách đi xe đối với các loại xe bắt buộc phải đội mũ bảo hiểm; phải có biển hiệu hoặc trang phục do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định để nhận biết với các đối tượng tham gia giao thông khác. Phương tiện vận chuyển phải bảo đảm quy định tại Điều 53 Luật Giao thông đường bộ; Xe thô sơ phải bảo đảm các điều kiện an toàn giao thông đường bộ theo quy định của ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Hoạt động vận chuyển do ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể về: a) Phạm vi, tuyến đường hoạt động, thời gian hoạt động đối với từng loại phương tiện để bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ; b) Các hoạt động dừng, đỗ, đón, trả hành khách và hàng hóa phải bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ. Xe thô sơ, xe gắn máy, xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh và các loại xe tương tự vận chuyển hành khách, hàng hóa trong phạm vi địa phương nào thì phải tuân theo các quy định của địa phương đó. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào những nguyên tắc chung và tình hình của địa phương để quy định cụ thể về hoạt động vận chuyển hành khách, hàng hóa bằng xe thô sơ, xe gắn máy, xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh và các loại xe tương tự trong phạm vi địa phương. Bạn của dân nghèo Dịch vụ “xe ôm”, “xe lai” với con số lên đến hàng vạn tài xế với hàng vạn môtô 2 bánh, xe gắn máy hoạt động sôi nổi đang chiếm tỉ trọng lớn dịch vụ vận tải khách đường bộ, đáp ứng được nhu cầu đi lại của một tỉ lệ lớn người dân đô thị có mức sống thấp và trung bình, giải quyết việc làm cho hàng vạn người nghèo, không có nghề nghiệp ổn định từ khắp các đô thị đến thôn quê. Đây là loại hình dịch vụ cần được tạo điều kiện để hoạt động trong an toàn và trật tự. Thực tế, từ khi chưa có chủ trương quản lý “xe ôm” thì nhiều địa phương, những mô hình quản lý và hoạt động có hiệu quả đã hình thành. Tại quận Tây Hồ, một số bến xe, các địa phương ở Bình Dương, Yên Bái... mô hình tổ đội “xe ôm an toàn” đã hình thành. Theo đánh giá của các địa phương, những mô hình này vừa giúp “xe ôm” có môi trường hành nghề mà thực chất là công ăn việc làm ổn định, vừa duy trì an ninh trật tự. Bên cạnh đó, theo thừa nhận của các bác tài xe 2 bánh, thì việc lập những mô hình này đã là nhu cầu tự thân. Đa số người chạy “xe ôm” ở các bến xe cho rằng nếu không tham gia tổ đội thì họ cũng khó có thể “đơn thương độc mã” hành nghề. Tuy nhiên, điều đáng nói là hầu hết mô hình này đều tự phát, thậm chí có nơi còn có xu hướng “băng nhóm bảo kê”. Bộ GTVT với chủ trương quản lý dịch vụ “xe ôm” là rất cần thiết. Hình thức dịch vụ vận tải khách công cộng này mấy năm nay có mức độ ảnh hưởng lớn tới xã hội, nên rất cần có sự quản lý. Song ở hình thức dịch vụ tự phát này mà áp dụng những biện pháp hành chính cứng nhắc, thủ tục nhiêu khê, phiền hà, chuyện quản lý sẽ bất khả thi và vô hình chung đặt người hành nghề “xe ôm” ra ngoài vòng pháp luật. Sự quản lý này trước hết nên tập trung vào việc tạo hành lang pháp lý cho người hành nghề “xe ôm” hoạt động có trật tự, tuân thủ các quy định pháp luật, đảm bảo môi trường hành nghề được an toàn, thuận lợi: người hành nghề được tập huấn về luật giao thông và kiểm tra tay nghề, được bố trí bến đỗ xe đón khách, được hướng dẫn đặt ra mức cước phí cho từng tuyến đường, không lo bị các băng nhóm bảo kê bắt chẹt, không lo bị cảnh sát trật tự đuổi vì đón trả trách không đúng nơi quy định. Khách muốn đi xe ôm phải theo thứ tự, người đến trước đi trước và giá cả thống nhất. Cánh “xe ôm” cũng vậy, mỗi người phải đợi đến lượt mình mới nhận chở khách... Như vậy, chắc chắn những bác tài xe ôm, đa số là người lao động nghèo, thậm chí là những người từ tỉnh lẻ đến làm ăn, sẽ rất trông cậy vào chính quyền, trông cậy vào cơ quan quản lý giao thông. Điều này có ý nghĩa này quan trọng hơn là việc bó buộc hay xử phạt người hành nghề. Đó là những vấn đề các địa phương cần quan tâm khi xây dựng các quy định cụ thể quản lý “xe ôm” và các dịch vụ tương tự.