Festival lúa gạo - góp phần thực hiện Nghị quyết của Trung ương về nông nghiệp, nông dân, nông thôn

Từ ngàn đời nay, cây lúa đã gắn bó với con người, làng quê Việt Nam, đồng thời cũng trở thành tên gọi cho một nền văn minh - nền văn minh lúa nước.

Cây lúa không chỉ mang lại sự no đủ mà còn trở thành một nét đẹp trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt. Hạt lúa và người nông dân cần cù, mộc mạc là mảng màu không thể thiếu trong bức tranh của làng quê Việt Nam bây giờ và mãi mãi sau này. Lúa - cây lương thực chính của người dân Việt Nam Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, cây lúa cũng đang có những biến đổi để thích ứng với nhu cầu thực tế. Chính vì vậy, cần phải bảo tồn và phát triển, làm phong phú thêm nguồn gen thực vật quý giá này. Là cây trồng quan trọng nhất thuộc nhóm ngũ cốc, lúa cũng là cây lương thực chính của người dân Việt Nam nói riêng và người dân châu Á nói chung. Cây lúa, hạt gạo đã trở nên thân thuộc gần gũi đến mức từ bao đời nay người dân Việt Nam coi đó là một phần không thể thiếu trong cuộc sống. Từ những bữa cơm đơn giản đến các bữa tiệc sang trọng, không thể thiếu sự góp mặt của hạt lúa, chỉ có điều, nó được chế biến dưới dạng này hoặc dạng khác. Không chỉ giữ vai trò to lớn trong đời sống kinh tế, xã hội mà còn có giá trị lịch sử, bởi lịch sử phát triển của cây lúa gắn với lịch sử phát triển của cả dân tộc Việt Nam, in dấu ấn trong từng thời kỳ thăng trầm của đất nước. Trước đây, cây lúa, hạt gạo chỉ có thể đem lại sự no đủ cho con người thì ngày nay nó còn có thể làm giàu cho người nông dân và cho cả đất nước nếu chúng ta biết biến nó thành một thứ hàng hóa có giá trị. Nghề trồng lúa nước ở nước ta xuất hiện rất sớm, từ nền văn hóa Hòa Bình, Việt Nam là một trong những trung tâm lúa nước sớm nhất tại các nước Đông Nam Á và vẫn còn lưu lại dấu tích trong các loại lúa dại ở Mường Thanh, di chỉ Xóm Trại... Rồi Lạc điền, Lạc dân canh tác theo thủy triều lên xuống trên ruộng Lạc thời Hùng Vương. Khảo cổ học cũng phát hiện các công trình tưới nước tự chảy ở Gio Linh (Quảng Trị) thời kỳ đá mới, những công cụ như rìu đồng, lưỡi cày đồng (Thanh Hóa, Sơn Tây), lưỡi hái (Gò Mun)... liên quan đến nghề trồng lúa thời kỳ Văn Lang... Các chức quan Hà đê sứ, Khuyến nông sứ thời nhà Lê, “Chiếu khuyến nông” của vua Quang Trung, dưới triều Nguyễn việc Nguyễn Văn Thoại đào kênh Vĩnh Tế... đều xuất phát từ những chủ trương mở rộng và canh tân nghề trồng lúa ở nước ta. Đi dần về phương Nam, Lê Quý Đôn từng viết “Người Nam Giao tiếp xúc với người Chiêm Thành nên trồng được nhiều thứ lúa...”. Suốt 4000 năm lịch sử, các công trình đắp đê phòng lụt, đào kênh ngòi, xây dựng mương máng tưới tiêu... phục vụ có hiệu quả cho việc mở rộng ruộng lúa từ châu thổ sông Hồng, miền Trung đến châu thổ sông Cửu Long... đã biến các đồng bằng thành những cánh đồng lúa lớn. Việt Nam là cái nôi của nền văn minh lúa nước, hạt gạo gắn liền với sự phát triển dân tộc và việc sản xuất lúa gạo cho đến nay vẫn là nền kinh tế chủ yếu của đất nước. Nếu trên trái đất, diện tích đất trồng lúa chiếm 11% thì tại Việt Nam khắp nơi đều trồng lúa, nhất là ở các miền đồng bằng và trên thế giới số người được sống bằng lúa gạo là 50% thì tại Việt Nam là 100%. Trên thực tế, việc sản xuất ra lúa gạo là một hoạt động kinh tế đứng hàng đầu. Những cánh đồng lúa trải dài từ khắp miền núi, đồng bằng đến cao nguyên, hình thành nên nhiều vùng thâm canh cây lúa. Những vựa lúa lớn của nước Việt Nam cả về diện tích, sản lượng và chất lượng có thể kể đến như đồng bằng sông Hồng thuộc khu vực phía bắc, đồng bằng sông Cửu Long - đồng bằng Nam Bộ...Đồng bằng sông Hồng - một nền văn minh lúa nước đã hình thành từ nghìn năm, gồm 11 tỉnh thành với diện tích tự nhiên khoảng 15.000 km2 được bồi đắp bởi phù sa của hai con sông lớn là sông Hồng và sông Thái Bình. Đây là địa bàn cư trú của người Việt cổ, cũng là nơi hình thành nền văn minh lúa nước. Vùng lúa đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) đang có những biến đổi tích cực bước đầu nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường. Nếu như trước đây, sản xuất lúa ở ĐBSH chú trọng phát triển đáp ứng nhu cầu về số lượng, thì nay nhu cầu không còn là mục tiêu duy nhất. Chính sự đòi hỏi về chất lượng của người tiêu dùng trong nước cũng như khả năng tham gia xuất khẩu, đang tạo ra những đổi thay ở vựa lúa lớn của các tỉnh phía Bắc. Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) rộng khoảng 36.000 km2, là vùng đất phì nhiêu, khí hậu thuận lợi. Đây là vựa lúa lớn nhất của Việt Nam, ngành kinh tế quan trọng nhất là sản xuất lúa gạo, đặc biệt là gạo chất lượng cao để xuất khẩu. Mặc dù chỉ chiếm 12% diện tích cả nước, ĐBSCL là nơi cư ngụ của 22% dân số cả nước, cung cấp 40% tổng sản lượng lương thực cả nước, và hơn một nửa sản lượng gạo cũng như tổng lượng gạo xuất khẩu được làm ra ở đây. Sản xuất lúa vẫn tiếp tục khẳng định là một ngành sản xuất hàng hóa quan trọng và ngày càng có sức cạnh tranh cao. Cây lúa tuy giảm diện tích, nhưng đang được các bộ, ngành, địa phương và nông dân mạnh dạn đưa nhanh các giống mới như IR64, OM1490, OSMC2000, ST3, HG2... cho năng suất và chất lượng cao bảo đảm an ninh lương thực quốc gia.Trong những năm gần đây, cây lúa ngày càng khẳng định được vị thế của mình trong sự phát triển của đất nước. Việt Nam từ một nước đói nghèo đã trở thành một nước đứng thứ 2 trên thế giới, sau Thái Lan về xuất khẩu gạo. Từ năm 1985, Nhà nước đã có những chương trình lớn về quỹ gen, hàng năm đầu tư từ 3-4 tỷ đồng cho chương trình quỹ gen cây trồng, vật nuôi và vi sinh. Trong đó, đặc biệt coi trọng việc nghiên cứu về quỹ gen cây lúa. Chương trình quốc gia này đã tạo thành được một màng lưới duy trì và bảo tồn các nguồn gen quý, đồng thời song song tiến hành các hoạt động nghiên cứu lai tạo nhiều giống mới.Cho đến nay, đã có gần 30 giống lúa được công nhận là giống quốc gia. Có những giống lúa thịnh hành từ những năm 1970 và những giống mới được công nhận trong những năm gần đây. Đây là những giống có năng suất cao, chất lượng tốt và được tạo nên từ công sức của tập thể các nhà khoa học tâm huyết. Nhờ có tiến bộ khoa học, nhiều loại lúa mới ra đời. Việt Nam là nước nông nghiệp, sản xuất chủ yếu vẫn là lúa gạo. Mặc dù quá trình đô thị hóa đang phát triển nhanh, diện tích sản xuất lúa gạo ngày càng bị thu hẹp, nhưng năng suất sản lượng lương thực mỗi năm đều tăng trên 1 triệu tấn, năm 2008 đạt trên 38 triệu tấn. Về xuất khẩu gạo, cũng tương tự mỗi năm đều tăng trên 1 triệu tấn, năm 2008 xuất khẩu 5 triệu tấn, năm 2009 có khả năng xuất khẩu đến 6 triệu tấn gạo. Việt Nam có dân số đông xếp hạng thứ 13, diện tích sản xuất lúa xếp hạng 5 và xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới. Tuy nhiên, tình trạng việc được mùa, mất giá vẫn tiếp tục diễn ra, gạo xuất khẩu giá còn thấp, thị trường không ổn định, làm cho đời sống và thu nhập người sản xuất lúa gạo ngày còn nhiều khó khăn. Festival lúa gạo - góp phần thực hiện Nghị quyết của Trung ương về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Nước ta xuất khẩu số lượng lúa gạo nhiều nhưng lợi nhuận thấp. Việc giới thiệu tiềm năng thế mạnh về sản xuất lúa gạo Việt Nam ra thế giới chưa nhiều. Việc xây dựng thương hiệu lúa gạo Việt Nam chưa cân xứng với yêu cầu xuất khẩu. Đứng trước thực trạng đó, yêu cầu phải có nhiều giải pháp đồng bộ từ Trung ương đến địa phương. Trong đó cần có nhiều hoạt động để tạo điều kiện gặp gỡ, giao lưu, thúc đẩy sản xuất, chế biến, mua bán lúa gạo tiến tới hợp tác đầu tư, liên kết kinh doanh. Festival sẽ là một hình thức tổ chức phối hợp, là điểm đến, là chiếc cầu nối cho những suy nghĩ, những sáng kiến, những ước mơ về lúa gạo Việt Nam góp phần nâng cao uy tín và thương hiệu lúa gạo Việt Nam, làm cho hạt gạo Việt Nam có tính cạnh tranh ngày càng cao. Theo ông Nguyễn Phong Quang, Ủy viên TW Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Hậu Giang: “Với những suy nghĩ trên, Hậu Giang trao đổi và xin ý kiến với Trung ương, các Bộ, Ngành, với lãnh đạo thành phố Hà Nội, TPHCM các tỉnh ĐBSCL, được các đơn vị, địa phương ủng hộ và được Thủ tướng chấp thuận”. Festival lúa gạo Việt Nam lần thứ I được tổ chức tại Hậu Giang, từ 28/11 đến 02/12/2009. Đây là sự kiện kinh tế, văn hóa, xã hội quan trọng, lần đầu tiên tổ chức tại Hậu Giang- một tỉnh nằm ở trung tâm ĐBSCL, vùng trọng điểm sản xuất lúa gạo Việt Nam. Festival được tổ chức bên bờ kênh xáng Xà No, con đường lúa gạo miền Hậu Giang, một trong những nơi có gạo xuất khẩu sớm nhất của Nam Bộ. Mục đích chính của Festival là nhằm tôn vinh nền văn minh lúa nước, tiềm năng, thế mạnh sản xuất lúa gạo, thúc đẩy sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ, mở rộng giao thương buôn bán, xuất khẩu lúa gạo, xây dựng thương hiệu lúa gạo Việt Nam, góp phần thực hiện Nghị quyết của Trung ương về nông nghiệp, nông dân và nông thôn, tạo động lực mới cho quá trình xây dựng và phát triển Hậu Giang./.