Em muốn đến trường để học chữ

Đó là lời khẳng định của những em học sinh bán trú mà chúng tôi đã gặp tại Trường Tiểu học và Trung học cơ sở Thàng Tín, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang. Một ngày lưu lại, tôi đã phần nào cảm nhận được sự vất vả của thầy cô trong sự nghiệp trồng người và gian nan con đường đến trường của học sinh, để rồi khâm phục hơn nỗ lực "cầm, nắm" con chữ của thầy và trò nơi đây.

“Đôi bạn cùng tiến” Vàng Thị Dóa và Vàng Thị Mỷ.

Trường liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở Thàng Tín gồm 21 lớp, với 225 học sinh Tiểu học, 131 học sinh Trung học. Bắt đầu từ năm học 2007-2008, nhà trường tổ chức lớp học bán trú dân nuôi cho những học sinh ở các thôn, bản xa trung tâm. Do nhiều lí do khác nhau, danh sách đăng ký có 42 học sinh nhưng thường xuyên chỉ có 27 học sinh ở bán trú. Điều đáng ghi nhận, 100% số học sinh ở bán trú của trường đều là dân tộc Mông, trú tại bản Giáp Trung, một trong những bản giáp biên giới và khó khăn nhất của xã Thàng Tín. Theo quy định, học sinh bán trú sẽ "góp" 3,5kg gạo/học sinh/tuần. Với số tiền hỗ trợ của Nhà nước, nhà trường sẽ cân đối mua thực phẩm và tổ chức nấu ăn cho học sinh. Theo Nghị định 49 của Chính phủ, mỗi học sinh vùng sâu, vùng xa, hải đảo được hỗ trợ 70 nghìn đồng/tháng (phòng Giáo dục huyện Hoàng Su Phì sử dụng số tiền này để mua đồ dùng học tập cấp phát cho học sinh); theo Nghị định 49 và Quyết định 85 của Chính phủ, học sinh bán trú được hưởng 80% mức hỗ trợ cơ bản. Tuy nhiên, hiện tại, do chưa cân đối được tài chính nên chỉ cấp 160 nghìn đồng/ tháng/học sinh và cấp theo quý. Như vậy, chế độ của học sinh bán trú luôn "đi sau" và để các em khỏi "đứt bữa", các thầy cô phải ứng lương của mình để chi phí cho các em hoặc mua chịu thực phẩm tại các cửa hàng với giá đắt hơn.

Tham quan thực tế cơ sở vật chất của nhà trường mới thấy điều kiện sinh hoạt của học sinh bán trú còn rất nhiều khó khăn. Do không có đường nước riêng nên 27 học sinh bán trú phải dùng chung bể nước với thầy cô giáo và bể nước của Trạm Y tế xã. Nhà ở của học sinh bán trú được thưng bằng gỗ, lợp pờ-rô-xi-măng, giường ngủ của các em là những tấm ván ghép lại. Không có bếp ăn riêng, cấp dưỡng nhà trường phải "mượn" bếp của thầy cô giáo để nấu. Đến giờ cơm, bàn học được kê lại, lớp học trở thành nhà ăn. Nhìn bữa ăn của học sinh với rau, đậu phụ và thịt lợn, tôi quay sang thầy Hiệu trưởng Nguyễn Hồng Lương: "Bữa ăn các em thế này ổn quá, phải không thầy?". Thầy Lương cười: "Đợt Tết vừa rồi, các em được nghỉ nên chúng tôi lấy tiền ấy tăng thêm vào bữa ăn sau này, chứ với 5 nghìn đồng 1 ngày thì cố gắng lắm cũng chỉ cân đối cho các em 1 tuần 2 bữa thịt, còn lại lạc rang hoặc đậu phụ và đa số vẫn là rau".

Giấc mơ con chữ

Cũng như bất kỳ lớp học vùng cao khác, việc học sinh bỏ học dở chừng là điều không thể tránh khỏi. Mỗi thầy cô chủ nhiệm Trường Tiểu học và Trung học cơ sở Thàng Tín đều có một cuốn sổ "vận động", trong đó, ghi họ tên, lý do học sinh không đến trường và chỗ kí cam kết của phụ huynh. Tuy nhiên, 27 học sinh bán trú chưa khi nào có tên trong cuốn sổ đặc biệt ấy. Bên cạnh việc lo nơi ăn, chốn ngủ cho các em, nhà trường cũng cử 2 thầy giáo Phan Văn Phong và Vũ Thế Anh làm công tác quản lý học sinh. Buổi tối, học sinh bán trú tập trung học từ 19 giờ đến 21 giờ và các thầy cô thay phiên nhau phụ đạo cho các em. Có lẽ nhờ sự chu toàn này mà con đường học hành của các em không bị đứt gánh suốt 3 năm học qua.

Cô Nguyễn Thị Thu Hà, Phó Hiệu trưởng nhà trường cho biết: Điều đáng mừng, từ năm học 2009-2010, nhà trường có 5 học sinh nữ ở bán trú, đều là dân tộc Mông ở bản Giáp Trung. Nếu như ở nhiều nơi, học sinh nữ lớp 7, lớp 8 trở thành "nỗi lo" của nhà trường, bởi việc bỏ học giữa chừng để lấy chồng thì ở đây, "nỗi lo" ấy bị loại bỏ. Em Lù Thị Mai, lớp 8 (học sinh bán trú) cho biết: "Ở nhà, em chỉ được ăn 2 bữa cơm với canh rau cải. Ở đây, em được ăn ba bữa cơm no, được ăn thịt. Bụng không còn bị đói, giờ em chỉ phải lo việc học hành, em sẽ cố gắng học giỏi". Vàng Thị Mỷ là đôi bạn cùng tiến với Vàng Thị Dóa và thành tích học tập của các em luôn là học sinh tiên tiến. Có thể, so với nhiều nơi, thành tích đó là "không đáng kể" nhưng ở đây, các em là niềm tự hào của các thầy cô, niềm hi vọng của gia đình. Bởi, theo cô Nguyễn Thị Thu Hà: "Việc vận động được các em học sinh dân tộc thiểu số đi học đã là thành công. Các em là học sinh nữ mà có thành tích học tập như vậy thì thật đáng mừng".

Trúc Hà

Email Print Góp ý