Dự án Quản lý tổng hợp vùng ven biển: Thúc đẩy phát triển kinh tế biển

    Gốc

    Ngày 24-11 tại TP. Hồ Chí Minh, đại diện Tổng cục Biển và Hải đảo (Bộ TN-MT), Ủy ban kinh tế của Quốc hội, cùng lãnh đạo các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và TP. Hồ Chí Minh đã dự và nghe báo cáo của các chuyên gia quốc tế về "Quản lý tổng hợp vùng ven biển”, một trong những dự án Việt – Đức đang đem lại hiệu quả đầy triển vọng trong phát triển kinh tế ven biển tại Việt Nam.

    Ngày 24-11 tại TP. Hồ Chí Minh, đại diện Tổng cục Biển và Hải đảo (Bộ TN-MT), Ủy ban kinh tế của Quốc hội, cùng lãnh đạo các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và TP. Hồ Chí Minh đã dự và nghe báo cáo của các chuyên gia quốc tế về "Quản lý tổng hợp vùng ven biển”, một trong những dự án Việt – Đức đang đem lại hiệu quả đầy triển vọng trong phát triển kinh tế ven biển tại Việt Nam.

    Các chuyên gia quốc tế nhận định kinh tế ven biển của Việt Nam

    mới chỉ khai thác được một phần nhỏ tiềm năng

    Ảnh: Hồng Phúc

    Tiến sĩ Nguyễn Chu Hồi, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo cho biết, hiện tiềm năng biển, đảo và vùng ven biển Việt Nam mới chỉ khai thác được một phần nhỏ và thực tế có tới 157 xã ven biển còn chưa thoát nghèo. Ước tính, với gần 2.773 đảo gần bờ và hai quần đảo xa bờ, cùng đường bờ biển trải dài đã đóng góp 4,5 tỷ USD vào tổng kim ngạch xuất khẩu (năm 2010) về thủy sản của cả nước; khai thác từ 3 – 4 tỷ tấn dầu quy đổi, cùng nhiều mỏ khoảng sản, du lịch và tiềm năng khai thác năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất với kinh tế biển nói chung và kinh tế ven biển của Việt Nam nói riêng hiện nay là những tác động của biến đổi khí hậu đang phá hủy môi trường sống ven biển; xói lở bờ biển, ô nhiễm biển và thủy triều đỏ. Ngoài ra, trong một thời gian dài vùng bờ biển nước ta có tới 15 bộ ban, ngành quản lý - Điều này cũng đã gây ra sự chồng chéo, lỏng lẻo và lãng phí ngân sách. Trong khi đó, cũng thiếu cả cơ quan trung ương điều phối liên bộ/ngành cho vùng ven biển, biển và hải đảo, từ đó dẫn tới thiếu chính sách quản lý ven biển.

    Do những bất cập kể trên mà các dự án hỗ trợ của quốc tế được Việt Nam đặc biệt quan tâm. Hiện các dự án hợp tác giữa Việt Nam với Hà Lan, Hoa Kỳ, Đức, Trung tâm Nghề cá thế giới; Ngân hàng thế giới... đang thu được những hiệu quả đáng ghi nhận. Việt Nam cũng nỗ lực tham gia các công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm tràn dầu; kiểm soát vận chuyển qua biên giới; Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS, 1982)...

    Trong số các giải pháp tiếp cận của các dự án nước ngoài hiện nay, Dự án "Quản lý tổng hợp vùng ven biển” (ICAM, đang thực hiện tại 3 tỉnh ĐBSCL) do Tổ chức Hợp tác phát triển Đức (GIZ) tài trợ đang đưa đến giải pháp quản lý tổng hợp trên nhiều lĩnh vực, nhưng vẫn đảm bảo sử dụng bền vững đa dạng sinh học biển và ven biển. Điển hình như tại Sóc Trăng, vừa qua các nhà khoa học Đức đã đưa ra một số cảnh báo rất đáng lưu tâm. Theo Tiến sĩ Klaus Schmitt - Cố vấn trưởng của GIZ, nếu mực nước biển dâng 1m, riêng tỉnh Sóc Trăng sẽ bị ngập khoảng 45% diện tích và ảnh hướng đến cuộc sống của hơn 450.000 người (35% dân số).

    Chia sẻ kinh nghiệm của Australia trong chiến lược phát triển kinh tế ven biển, Giáo sư Tim Smith – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu phát triển bền vững (Australia) cho biết, Việt Nam và Australia có nhiều điểm tương đồng và một trong số đó là cả hai nước đều là các quốc gia ven biển. Tại Australia, 85% dân số sinh sống trong vòng 50 km từ bờ biển và cũng phải đối mặt với nguy cơ ngập do nước biển dâng vào năm 2100 theo kịch bản với mức dâng của nước biển 1,1m. Còn tại Việt Nam, do có tới 1/3 dân số có cuộc sống gắn chặt với các tiềm năng từ biển, Chính phủ nên khuyến khích người dân tham gia vào các quyết sách có ảnh hưởng đến họ càng đặc biệt quan trọng.

    Bà Bianca Schlegel, chuyên gia cố vấn nước ngoài về quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên vùng ven biển tỉnh Sóc Trăng cho biết, vào tháng 7-2011, đoàn chuyên gia, nhà khoa học Việt Nam đã có chuyến thăm quan miền Bắc nước Đức, đoàn đã nhận định mô hình quản lý ngập lụt đô thị của Đức mà Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm, đó là áp dụng các loại hình bảo vệ chống ngập lụt, gồm: Đê và tường bảo vệ chống lũ; xây dựng đê ở vị trí gò cao và bảo vệ phù hợp với từng địa điểm. Việc áp dụng các loại hình này của Đức từ hàng trăm năm qua đã bảo đảm tiêu thoát nước, chống ngập lụt đô thị và bảo vệ lĩnh vực nông nghiệp của nước này.

    Là một trong những địa phương được Đức tài trợ về quản lý tổng hợp vùng ven biển, ông Lê Thành Trí, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng nhìn nhận, nhờ học hỏi kinh nghiệm quốc tế, tranh thủ sự hỗ trợ bên ngoài đã đem đến những thay đổi lớn trong cách suy nghĩ và hành động không chỉ của địa phương mà của cả các cơ quan trung ương. Theo ông Trí, ĐBSCL là một trong 3 vùng châu thổ chịu thách thức giữa một bên là phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo và một bên là những tác động đáng lo ngại lên môi trường và xã hội. Những vấn đề này đòi hỏi cần phải có cách tiếp cận toàn diện và chiến lược, kể cả sự hỗ trợ từ quốc tế về quản lý tổng thể đất, nước và các nguồn tài nguyên để thúc đẩy việc bảo vệ và phát triển bền vững vùng ven biển.

    Trong tầm nhìn dài hạn của kinh tế ven biển Việt Nam, Tiến sĩ Nguyễn Chu Hồi khẳng định, việc phát triển bền vững bờ biển đang đặt ra nhiệm vụ lớn đối với Việt Nam. Mục tiêu đến năm 2020, khoảng 20 tỉnh/thành duyên hải Việt Nam sẽ thông qua và triển khai kế hoạch quản lý tổng hợp vùng ven biển, cùng với việc tích cực lồng ghép kịch bản đối phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng.

    THÀNH LUÂN

    Gửi cho bạn bè

    Bản in

      Nguồn Đại Đoàn Kết: http://daidoanket.vn/index.aspx?chitiet=42709&menu=1372&style=1