Djokovic và sự hoàn hảo của tennis thế kỷ 21

Không có tay vợt nào phù hợp hơn Djokovic để áp dụng lối đánh cuối sân đã bắt đầu thống trị thế giới từ những năm đầu ở thế kỷ 21.

Nhìn lại Djokovic vô địch ATP Finals 2015:

Ngay từ đây có thể đã có câu hỏi rằng Federer, người được coi là Mr. Hoàn Hảo, hay Nadal, người hiện giành được nhiều Grand Slam nhất với lối đánh cuối sân thì sao?

Gượm đã. Sự hoàn hảo của Federer là bất tử, là sự kết nối giữa quá khứ và hiện tại, giữa vẻ đẹp nghệ thuật tấn công trên lưới với tấn công mạnh mẽ từ cuối sân. Federer là hoàn chỉnh cho sự kết hợp của mọi lối chơi, của sự đa dạng.

Còn bảng thành tích đồ sộ của Nadal với 14 Grand Slam, 27 danh hiệu Masters 1000 thì có tới 9 Grand Slam và 19 danh hiệu Masters 1000 đến từ sân đất nện. Đất nện là nơi mà các tay vợt chỉ có thể chơi thứ tennis cuối sân chứ khó lòng giao bóng volley.

Trong khi ấy, Djokovic có 11 Grand Slam nhưng chưa từng lên ngôi ở Roland Garros, có 26 Masters 1000 thì 19 danh hiệu đạt được trên mặt sân cứng ngoài trời và trong nhà (chỉ có bảy danh hiệu từ sân đất nện).

Nếu như chơi trên sân đất nện mà đứng cuối sân là để tận dụng ưu thế tự nhiên của nó, thì chơi trên sân cứng mà đứng cuối sân cần những kỹ năng khá đặc biệt, thậm chí phải đạt được tới mức độ hoàn hảo trong một số cú quả.

Nếu như cú trái hai tay, kỹ năng trả giao bóng của Djokovic đã được thừa nhận ở vị trí đầu bảng trong suốt bốn năm qua thì năm 2015 này còn ghi nhận những sự nâng cấp đáng kể, hoàn thiện của các kỹ năng khác trong đó có thuận tay, giao bóng, nền tảng thể lực, tâm lý.

Djokovic và sự hoàn hảo của tennis thế kỷ 21 - Ảnh 1

Djokovic quá mạnh ở thời điểm hiện tại

Thuận tay số 1

Nếu như trước kia, Nadal và Federer được coi là có cú thuận tay hay nhất thì nay cả hai cùng có một số vấn đề nhất định. Nadal không còn tạo ra các cú đánh đủ xoáy và đủ sâu để dồn ép đối thủ phải lùi lại sâu để chống đỡ nữa. Các cú thuận tay của Nadal thường có điểm chạm mặt sân không xa lắm vạch giao bóng, và trở thành mồi ngon cho các tay vợt tấn công trở lại. Khi ấy, chơi trên mặt sân cứng, Nadal dễ phơi bày nhược điểm, và bị đối phương khai thác tối đa.

Còn cú thuận tay của Federer bị ảnh hưởng khá nhiều bởi vấn đề tuổi tác, dù cho tốc độ đầu vợt của anh vẫn thuộc hàng nhanh nhất thế giới thì độ chính xác đã giảm sút đáng kể.

Trong khi đó, Djokovic đạt tới sự chuẩn mực của cú thuận tay, từ việc tạo ra những cú đánh cực xoáy cho tới việc làm nên những cú đánh siêu nặng khi anh đánh bóng lúc nó vừa nảy lên từ mặt sân.

Vai của Djokovic xoay tới ngưỡng tạo một đường thẳng (tưởng tượng) vuông góc với lưới khi thực hiện cú thuận tay nên nó ít tốn sức hơn khi sử dụng được sức mạnh của cả cơ thể, đặc biệt là thân trên.

Bộ chân di chuyển số 1

Chìa khóa để Djokovic chơi một thứ tennis khá nhàn nhã, nâng tầm cú thuận tay của anh còn nằm ở đôi chân. Khả năng di chuyển cực tốt dựa trên nền tảng thể lực được cải thiện để được coi là tay vợt có sự dẻo dai tốt nhất hiện nay đã giúp Djokovic áp đặt được lối chơi của mình.

Việc có cú trái hai tay xuất sắc nhất ATP hiện nay cũng giúp Djokovic có lợi thế trong việc chọn vị trí, không phải né trái đánh phải quá nhiều và rút ngắn đường di chuyển khi đối phương chuyển hướng tấn công.

Từ đó mà Djokovic có thể di chuyển trước khi đối thủ ra đòn, và kết quả là anh thường nhanh hơn đối thủ một bước chân.

Giao bóng tiếp tục cải thiện

Djokovic trong năm 2015 còn giao bóng tốt hơn chính anh trong năm 2011. Mọi tỉ lệ quan trọng nhất đều có sự cải thiện, trong đó quan trọng nhất là giao bóng hai, với tỉ lệ ăn điểm lên tới 60,4%.

Thông thường, một tay vợt chỉ cần ăn điểm giao bóng hai từ 45-55% đã có thể tự tin sẽ chiến thắng ở các game cầm giao bóng dù cho giao bóng một không thực sự hoàn hảo. Và khi tỉ lệ trung bình lên tới 60%, đó thực sự là ngưỡng hoàn hảo.

Bảng thống kê về giao bóng của Djokovic

Năm

Trận

Ace%

1 st Serve in

1 st serve

2 nd Serve

2015

82-6 (93%)

7.4%

66.3%

74.6%

60.4%

2011

70-6 (92%)

6.3%

65.3%

74.1%

55.6%

Tâm lý

Việc tận dụng các cơ hội bẻ game cũng như cứu được những điểm break là hai trong số những phẩm chất chủ chốt để đánh giá về bản lĩnh, tâm lý của các tay vợt. Djokvovic đứng đầu trong nhóm Big 4 mở rộng (có thêm Wawrinka, Nishikori, Cilic) với tỉ lệ cứu break point thành công là 68,8%.

Nó có thể tạo ra một tâm lý chán nản cho các đối thủ của Djokovic bởi việc kiếm được break point của Djokovic đã khó (1,5 điểm mỗi set – tính trung bình), thì tận dụng cơ hội trước Djokovic còn khó hơn.

Cũng còn có những tiêu chí khác nữa, mà không cần phải thông qua các con số, là sự khác biệt của chính Djokovic trước các đối thủ khác nhau, trong những trận đấu có tính chất quan trọng khác nhau. Không ai rõ hơn về sự khác biệt "chết người" của Djokovic bằng Federer, người có thể thắng tay vợt Serbia trong những trận đấu vòng ngoài, hay giải mang tính khởi động, nhưng lại thất bại trong những trận chung kết hoặc ở các giải đấu danh giá nhất.

Djokovic và sự hoàn hảo của tennis thế kỷ 21 - Ảnh 2

Bản lĩnh là điều làm nên số 1

Vết gợn của Djokovic

Quá trình hoàn thiện của Djokovic trong năm 2015 và những thành tích mà anh giành được với 11 danh hiệu trong đó có ba Grand Slam, sáu Masters 1000 giúp Djokovic được so sánh với những mùa giải vĩ đại nhất của những huyền thoại đã tạo ra trước đây, trong đó có năm diệu kỳ 2006 của Federer.

Nhưng Djokovic chưa thực sự hoàn hảo, có vết gợn ở tinh thần thể thao mã thượng cũng như việc không thể thống trị trên những mặt sân bóng chậm.

Ở Australian Open là hai vấn đề: Giả bộ chấn thương khi đối đầu với Murray ở chung kết để rồi tình bạn của hai tay vợt sinh cùng tháng, cùng năm (chỉ chênh nhau một tuần) bị sứt mẻ. Rồi ở cuối năm, Djokovic đã khiến nhiều người ngỡ ngàng khi khiến cho một cô bé nhặt bóng sợ hãi vì việc anh trút giận khi không vừa ý. Và suýt chút nữa đã bị Wawrinka đánh bại ở bán kết nếu khi Wawrinka đã dẫn trước sau ba set.

Australian Open là nơi có mặt sân cứng chậm nhất dù cho nó đã có những điều chỉnh để tăng độ trượt và giảm độ nảy trong hai mùa gần đây.

Và vấn đề chuyên môn đó tiếp tục thể hiện ở Roland Garros. Wawrinka đã đánh bại Djokovic ở chung kết sau bốn set. Đó là trận đấu mà người chiến thắng đã tấn công mạnh mẽ hơn, quyết đoán hơn, chứ không phải là lấy mặt sân chậm hơn để làm nền tảng cho phòng ngự.

Câu hỏi mở ra cho tất cả chúng ta là sự hoàn hảo của Djokovic có đến trong năm 2016?

Những mùa giải vĩ đại trong lịch sử tennis nam

Tay vợt

Năm

Thắng-bại

%

John McEnroe

1984

82-3

.965

13

Jimmy Connors

1974

93-4

.959

15

Roger Federer

2005

81-4

.953

11

Roger Federer

2006

92-5

.948

12

Bjorn Borg

1979

84-6

.933

13

Novak Djokovic

2015

82-6

.932

11

Roger Federer

2004

74-6

.925

11

Ivan Lendl

1986

74-6

.925

9

Ivan Lendl

1985

84-7

.923

11

Novak Djokovic

2011

70-6

.921

10

Phạm Tấn