Dẹp “rào cản” tạo đà phát triển

TS. Cao Sĩ Kiêm.

Năm 2012, nền kinh tế Việt Nam đã phải đối mặt với những khó khăn tích tụ từ nhiều năm trước, cùng đó là những diễn biến tiêu cực gần đây của thế giới như: Nợ công châu Âu nghiêm trọng; nền kinh tế Hoa Kỳ chậm phục hồi; châu Á chịu nhiều thiên tai và rủi ro tiềm ẩn; giá vàng, năng lượng, lương thực bất ổn... đẩy nền kinh tế nước ta đối diện với những bất ổn vĩ mô, nhiều doanh nghiệp giải thể, nợ xấu ngân hàng, hàng tồn kho lớn, sức tiêu thụ hàng hóa giảm, khả năng hấp thu vốn của doanh nghiệp thấp...

Để khắc phục những “rào cản” tạo đà phát triển cần thực hiện ngay một số giải pháp đồng bộ và thống nhất từ trung ương đến địa phương, đồng thời kiên trì tái cấu trúc nền kinh tế. Nhiều chuyên gia kinh tế nhận định, hiện chúng ta có ba “rào cản” chính: cơ chế, chính sách chậm đổi mới, cơ sở hạ tầng còn yếu kém, nguồn nhân lực đông mà không mạnh.

TẠO DỰNG CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH MẠNH

Hơn một phần tư thế kỷ tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, song, những vấn đề tồn đọng cũng còn đáng kể; nổi bật đó là những thiếu hụt, bất cập về cơ chế, chính sách, hệ thống pháp luật và văn bản dưới luật chưa hoàn chỉnh, vừa thiếu vừa chồng chéo, chưa sát với tình hình thực tiễn và chưa phù hợp với thông lệ quốc tế, từ đó khả năng thực thi pháp luật chưa cao.

Do nhận thức xã hội còn hạn chế, thiết chế xã hội chưa hoàn thiện, dẫn đến việc “công khai, minh bạch” ít được vận dụng trong xã hội hoặc chỉ là hình thức; phần nào đã tạo thêm cơ hội để vấn nạn tham nhũng phát sinh, phát triển. Hiệu lực quy phạm pháp luật thấp đã tạo nên những “lỗ hổng” để các dạng thao túng kinh tế, chính trị hoành hành. Điển hình là sự thiếu rõ ràng, chặt chẽ trong tổ chức, quản lý, giám sát thu thuế hay một số hoạt động cấp phép xuất, nhập khẩu, quy hoạch đất đai, thu các khoản phí và lệ phí... Khách quan mà nói bộ máy công quyền ở ta còn kém hiệu lực, đây đó dẫn đến lạm dụng chức quyền và tư lợi, hình thành “nhóm lợi ích”.

Mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 32/CT-TTg quy định về việc loại bỏ những rào cản để hoàn thiện cơ chế, chính sách, nâng cao hiệu quả đầu tư. Theo đó, Chính phủ yêu cầu các cơ quan từ Trung ương đến địa phương, các tập đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước, theo chức năng nhiệm vụ được giao, một mặt tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc, quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các cơ chế, chính sách, giải pháp liên quan đến lĩnh vực đầu tư và nâng cao hiệu quả đầu tư; mặt khác, phải chủ động rà soát loại bỏ những quy định không còn phù hợp hoặc đang cản trở đến việc thu hút, sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư của đất nước.

Hiện tại, hệ thống hạ tầng ở nước ta chưa theo kịp nhu cầu phát triển kinh tế, đặc biệt hạ tầng giao thông đang bất cập nghiêm trọng và gây ra những yếu tố bất lợi cho sự phát triển. Theo khảo sát của Ban Thư ký Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam: 87,8% doanh nghiệp nước ngoài và 83% doanh nghiệp trong nước trong tổng số 291 doanh nghiệp đánh giá chất lượng cơ sở hạ tầng ở ta ở mức kém và rất kém. Kết quả này cũng tương đồng với Báo cáo năng lực cạnh tranh quốc gia của Diễn đàn Kinh tế thế giới, trong đó cơ sở hạ tầng Việt Nam bị xếp hạng thấp nhất trong bộ chỉ số cạnh tranh. Khảo sát của Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) cho biết, hơn 600 doanh nghiệp Nhật Bản cho rằng cơ sở hạ tầng yếu kém của Việt Nam đang là trở ngại cho đầu tư.

Theo ông Phạm Thanh Tùng, Vụ trưởng Hợp tác quốc tế, Bộ Giao thông - Vận tải cho biết: Việt Nam cần khoảng 110 tỷ USD cho hạ tầng giao thông. Trong đó, kế hoạch đầu tư của Bộ Giao thông - Vận tải cho các dự án giai đoạn 2011 - 2015 cần tới khoảng 800.000 tỷ đồng, tương đương với 40 tỷ USD.

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC

Chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta hiện rất yếu dù số lượng việc làm được tạo ra hằng năm qua khá lớn, song chủ yếu chỉ ở khu vực lao động giản đơn, thu nhập thấp và khu vực nông nghiệp. Vì vậy giá trị gia tăng không nhiều, chủ yếu “lấy công làm lãi”. Cơ cấu lao động theo ngành nghề còn bất hợp lý, thiếu chuyên gia có trình độ cao, đội ngũ quản lý, nhà kinh doanh giỏi và công nhân lành nghề. Nếu chúng ta cứ coi lao động giá rẻ là một lợi thế thì quả là sai lầm, bởi yếu tố quyết định đến doanh thu lợi nhuận của doanh nghiệp chính là năng suất lao động.

Mặc dù Việt Nam được thế giới đánh giá là có lợi thế đông dân số, đang trong thời kỳ “dân số vàng”, lực lượng trong độ tuổi lao động dồi dào; nhưng theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB) nếu lấy thang điểm là 10 thì chất lượng nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3,79 điểm (xếp thứ 11/12 nước châu Á tham gia xếp hạng của WB) trong khi Hàn Quốc là 6,91; Ấn Độ là 5,76; Ma-lai-xi-a là 5,59; Thái-lan là 4,94... Cơ cấu phân bổ lao động theo ngành nghề ở nước ta hiện cũng mất cân đối. Các ngành kỹ thuật - công nghệ, nông - lâm - ngư nghiệp chiếm tỷ lệ thấp, trong khi đó một số ngành xã hội, luật, kinh tế, ngoại ngữ... lại chiếm tỷ lệ cao. Nhiều ngành nghề, lĩnh vực ”vừa thừa vừa thiếu nhân lực”...

Để phát triển nguồn nhân lực, trước mắt và lâu dài chúng ta cần tính đến yếu tố chất lượng sinh đẻ và bồi dưỡng sức dân. Vấn đề này liên quan nhiều yếu tố như chính sách xã hội, chính sách y tế, chính sách tiền lương, chính sách xây dựng cơ sở hạ tầng... Không thể nói đến nhân lực chất lượng cao khi chất lượng giáo dục đại học còn thấp.

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 đã chỉ rõ cần tập trung tạo đột phá “phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản nền giáo dục quốc dân, gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ”.

NHỮNG GIẢI PHÁP CẤP BÁCH

Theo dự báo, năm 2013 nền kinh tế Việt Nam tiếp tục phải đối mặt với nhiều thách thức: tăng trưởng kinh tế vẫn diễn ra chậm chạp hơn kỳ vọng, lãi suất cho vay phổ biến vẫn ở mức cao trong bối cảnh thanh khoản của hệ thống ngân hàng chưa hết căng thẳng và nợ xấu vẫn chưa hạ nhiệt. Sự giảm mạnh sức mua làm giảm nhu cầu nội địa, hàng hóa sản xuất ra khó tiêu thụ, lượng tồn kho tăng cao, vòng quay vốn chậm, hoạt động sản xuất kinh doanh còn gặp nhiều khó khăn. Tình trạng phát triển “bong bóng” rồi bất ngờ đóng băng của bất động sản cũng được xem là yếu tố làm tắc nghẽn huyết mạch của nền kinh tế, chưa thể khắc phục một sớm một chiều.

Chúng ta nên sớm có những giải pháp tổng thể để phục hồi sản xuất bằng: Tiết giảm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm, giúp doanh nghiệp hạ giá bán, đẩy nhanh quá trình tiêu thụ sản phẩm, giảm thiểu hàng tồn kho, hạn chế thiệt hại cho doanh nghiệp, tiến tới mở rộng sản xuất kinh doanh, nâng cao tính cạnh tranh trên thị trường; Tạo sức cầu mới bằng cách phối hợp chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ nới lỏng theo hướng tập trung cơ cấu phân bổ vốn tín dụng vào các ngành sản xuất có khả năng cạnh tranh, tập trung tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cải thiện sức mua thị trường nội địa; Tăng cường hỗ trợ tạo việc làm, bảo đảm an sinh xã hội cho những người có thu nhập thấp, người nghèo... Ngoài ra có kế hoạch tăng lương theo đúng lộ trình và khuyến khích cho vay tiêu dùng ngăn chặn đà thu hẹp sức mua của thị trường và góp phần giảm bớt lượng hàng tồn kho.

Trong thế giới đầy biến động hiện nay, mỗi quốc gia đều có cách thức tái cấu trúc nền kinh tế khác nhau. Chúng ta cần nghiên cứu, đánh giá kỹ để có biện pháp phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của đất nước. Khi đã khách quan nhận diện được những “rào cản” thì yếu tố niềm tin và quyết tâm của cả cộng đồng sẽ góp phần cải thiện tình hình kinh tế nước nhà trong năm 2013 và tạo đà cho sự phát triển của những năm tiếp theo.