Đến Phú Yên, khám phá vẻ đẹp thanh bình ven sông Trà Bương

    SG Tiếp Thị
    GốcPhú Yên

    Sông Trà Bương hợp nguồn từ huyện Sơn Hòa chảy qua hai xã Xuân Phước, Xuân Quang 3 (huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên). Khi qua địa phận xã Xuân Phước, hồ Phú Xuân ngăn dòng Trà Bương tích nước. Cũng chính vì vậy mà trước đây sông Trà Bương vào mùa khô, dòng sông cạn chảy đứt quãng, nước không hòa nhập được vào sông Kỳ Lộ chảy ra biển, nay nước chảy quanh năm.

    Hồ Phú Xuân ‘trả sông về lại cho sông’

    Ảnh: Mạnh Hoài Nam

    Ảnh: Mạnh Hoài Nam

    Từ khi hồ Phú Xuân tích nước, dẫn nước theo kênh, mương chảy về tưới ruộng đồng rồi theo mương rút đổ ra sông, nhờ đó, dòng sông Trà Bương chảy quanh năm, nông dân tận dụng mảnh đất bỏ hoang trồng cỏ, chăn nuôi bò.

    Ông Phạm Văn Tuấn, ở xã Xuân Phước dùng máy bớm nước tưới cỏ voi trồng ven sông tâm sự “Đây là mảnh đất do địa hình ngăn bờ chỉ còn lại góc nhỏ, gọi là “đầu thừa đuôi thẹo” trồng cỏ nuôi bò, nhờ vậy mà chỉ cần bỏ ra 30 phút cắt cỏ chở về cho bò ăn, còn trước đây phải bỏ ra cả buổi ra ngồi “nạo” trên bờ ruộng đầy giỏ cỏ mang về, trong khi đất ven sông khô nước bỏ hoang. Dòng sông nước chảy quanh năm thuận lợi đủ chuyện, ngoài trồng cỏ người dân trồng hoa màu…”

    Ông Tuấn nhớ lại, hồi chưa có hồ Phú Xuân, mùa hè dòng sông trơ đáy, người chăn vịt tối trải tấm bạt ra giữa sông là bãi cát nằm ngủ. Dọc theo chiều dài dòng sông chỉ có vực Bàu Sơn, vực Đồng Thành, vực Bà Chẩn nước còn đóng vũng.

    Lúc đó, muốn tưới đám bắp phun râu, đám dưa ra nụ phải vét giếng giữa dòng sông rồi khiêng máy bơm ra hút. Thời đó nhà giàu có mới mua nổi máy F10 là dòng máy do Nhật Bản sản xuất chạy bằng động cơ diesel, nặng trên một tạ, khiêng ra sông bơm tưới. Sáng khiêng ra sông hút nước bơm tưới rồi chiều khiêng về, nếu để máy ngoài sông, đêm kẻ gian tháo trộm. Bây giờ sông lúc nào cũng có nước chảy, mang máy bơm loại nhỏ, sức nặng chỉ “xách một tay” ra đặt ống dưới sông bơm tưới 5-10 phút là tràn bờ.

    Nước từ hồ Phú Xuân chảy theo kênh N2 dẫn nước tưới cánh đồng thôn Phú Xuân A, Phú Xuân B, Phước Hòa (xã Xuân Phước) và thôn Phước Nhuận, Phước Lộc (xã Xuân Quang 3). Kênh N1 dẫn nước hồ Phú Xuân tưới một phần cánh đồng thôn Phú Xuân A, cánh đồng thôn Thạnh Đức.

    Cánh đồng lúa xã Xuân Quang 3, tưới nước tự chảy hồ Phú Xuân. Ảnh: Mạnh Hoài Nam

    Cánh đồng lúa xã Xuân Quang 3, tưới nước tự chảy hồ Phú Xuân. Ảnh: Mạnh Hoài Nam

    Bà Nguyễn Thị Hương (62 tuổi), ở thôn Phú Xuân B, trong ký ức của người lớn tuổi, nhớ lại “Hồi hồ Phú Xuân chưa ngăn dòng, nam nữ trong thôn lập gia đình ai cũng lo “nồi riêng”, ráng trồng trọt làm ăn. Ruộng ở quê hứng nước trời một năm sản xuất vụ lúa. Mà làm ruộng hứng nước trời, cơn mưa đầu mùa ập xuống, mọi người trong xóm ra đồng be bờ hứng nước cày ải vào vụ lúa mới. Nhà tôi không có bò phải chờ người ta cày xong mới mướn bò cày, sạ muộn. Cuối vụ, ruộng xung quanh chín thu hoạch xong, ruộng nhà tôi còn xanh, bò trong xóm thả ăn qua ăn lại chỉ còn lỡm giữa mất mùa riêng. Sau vụ lúa, ai thuê gì tôi làm nấy kiếm tiền chạy gạo ăn từng bữa”.

    “Từ ngày Nhà nước đầu tư xây dựng hồ chứa nước Phú Xuân, ruộng một năm sản xuất 2 vụ. Lúa không chỉ ăn dư dả mà còn bán lấy tiền trang trải cuộc sống”, bà Hương nói thêm.

    Còn ông Nguyễn Văn Trung, một người dân ở thôn Phước Nhuận, cũng nhớ lại “Hồi cánh đồng trước xóm nhà hứng nước trời, chờ mưa xuống ướt đất cày bò, đất cục bứng lên từng dề to bằng cái thúng rồi bừa đất bằng bò không chà nát đất nên khi bừa có người đi theo sau đập giề đất cục cho nhỏ ra, để khi gieo lúa, đất cục không đè hột giống lúc nảy mầm. Một năm gieo một vụ lúa, giống lúa dài ngày, sáu tháng mới chín đỏ đuôi.

    Có năm lúa trổ đòng gặp nắng hạn, gié lúa ngắn ngủn, hột lúa lừng không no gạo, cắt một giạ giống (1.000 m²), không được tam bao cột túm miệng, tương đương 40 tạ/ha. Khi có hồ Phú Xuân “đứng lên làm trời” tưới nước, nông dân dùng máy cày tay rồi bừa kéo láng sạ lúa”.

    Cũng theo ông Trung, từ ngày hồ Phú Xuân tưới nước, cánh đồng lúa của xã luôn đổi thay. Lúc đầu mỗi khi đến vụ lúa, ruộng cày bằng máy cày tay, nông dân me cái cuốc rồi bỏ ra cả ngày cuốc bờ góc, gần đây máy cày chảo “ôm” sát bờ sát góc. Trước đây người dân xúc lúa bồ tức là lúa thịt làm giống, nay trên cánh đồng nông dân sạ lúa giống siêu nguyên chủng, khi gié lúa cúi, chín sát cậy, hạt to bóng mẩy, cuối vụ thu hoạch đạt 70 tạ/ha.

    Cánh đồng đổi thay từng ngày, gần đây sử dụng thiết bị không người lái phun thuốc bảo vệ thực vật, nông dân không phải đeo bình bơm sau lưng như trước.

    Mùa đậu phộng bên sông

    Nếu ai có dịp đi qua cầu sông Trà Bương nối thôn Phước Lộc và Thạnh Đức (xã Xuân Quang 3) trong nắng tháng Ba âm lịch, sẽ phát hiện ra khoảng thời gian này cũng đang vào mùa thu hoạch đậu phộng bên dòng sông Trà Bương. Cảnh thu hoạch đậu phộng rất thơ mộng.

    Người dân thu hoạch đậu phộng ven sông. Ảnh: Mạnh Hoài Nam

    Người dân thu hoạch đậu phộng ven sông. Ảnh: Mạnh Hoài Nam

    Sông Trà Bương chảy qua xã Xuân Quang 3, hai bên bờ, mùa mưa lũ phù sa bồi đắp thành những triền soi (dải đất cát pha ven hai bên sông, được hình thành từ dòng chảy của sông), người dân quanh vùng trồng đậu phộng. Đến mùa thu hoạch, sáng, ông Phan Văn Ẩn ở đội 8 (thôn Thạnh Đức) ra soi khom lưng nhổ đậu.

    Nửa buổi sáng, ông ra hàng tre gần bờ sông chặt chà gai tre (ngọn tre khô) rồi chặt thêm nhánh cây kéo vào chỗ đám đậu phộng. Ông Ẩn dùng rựa dạt cho gốc chà tre nhọn rồi cắm dựng đứng lên. Ông lấy tấm bạt nhỏ phủ lên thành chòi rồi ôm đậu phộng nhổ chất đống ngoài đám vô trong chòi…ngồi lặt, tránh nắng. Gần trưa, bờ sông gió thổi mạnh, ông Ấn ngồi dậy cho chòi “đội” thêm mớ dây đậu phộng… giữ tấm bạt không bị gió hất tung.

    Ông Ẩn cho hay để đậu phộng sai trái, ngoài bón phân, khi cuốc cỏ xới xung quanh gốc, có người sợ cuốc trúng đứt rễ nên chừa lại lớp đất cứng dẽ chặt quanh gốc vì thế đậu phộng ít sai. Vì vậy cuốc cỏ phải moi cho “bể nồi bể trã”, nghĩa là xới đất cho xốp sát gốc, không còn lớp đất cứng dẽ chặt quanh gốc để khi đậu phộng ra củ sai.

    Đất phù sa lại có nước tưới bơm từ sông lên, nông dân trồng đậu phộng giống cao sản, phân cành nhiều khi nhổ lên, phần củ to bằng chén ăn cơm. Năng suất thực thu đạt 50 tạ/ha, lợi nhuận trên 10 triệu đồng/ha.

    Còn bà Trần Thị Được, cũng ở đội 8 đang ngồi một mình trong chòi lặt đậu phộng, chia sẻ trước đây trồng đậu phộng giống đậu sẻ, trồng xong “khoán trắng” cho trời, năm nào thuận mưa thì có nhổ, còn gặp nắng hạn đậu phộng chết ẻo, khô héo ngoài ruộng, nông dân trắng tay; bây giờ trồng đậu phộng giống mới có nước bơm tưới kháng bệnh chết yểu.

    Dọc triền soi, chòi đậu phộng nối dài, trong cái chòi có hai, ba người ngồi tránh nắng, có nhà đơn chiếc thì có một người trong chòi đậu phộng.

    Ông Trương Văn Bắc, ở xã Xuân Sơn Bắc (huyện Đồng Xuân), đứng gần cầu sông Trà Bương nhìn chòi đậu phộng, tâm sự “Tôi qua đây đúng dịp thu hoạch đậu phộng, nhìn cánh chòi ven sông, thổn thức trong lòng, tôi nhìn say sưa. Trước đây ở quê tôi cũng có cảnh này, nay không còn. Lâu lắm nhìn lại chòi đậu phộng thật là thơ mộng”.

    Ông Phạm Trung Chánh, phó Chủ tịch UBND huyện Đồng Xuân, cho biết hồ chứa nước Phú Xuân chặn dòng sông Trà Bương được khởi công vào cuối năm 1993, đến đầu năm 1997 hoàn thành đưa nước vào ruộng đồng. Hồ Phú Xuân mỗi vụ tưới 450ha lúa cánh đồng xã Xuân Phước và xã Xuân Quang 3, nằm dọc đôi bờ dòng sông Trà Bương. Ngoài ra tưới đậu phộng, bắp, bầu bí, cỏ chăn nuôi…

    Mạnh Hoài Nam

    Nguồn Sài Gòn Tiếp Thị: https://www.sgtiepthi.vn/den-phu-yen-kham-pha-ve-dep-thanh-binh-ven-song-tra-buong/