Đảm bảo an ninh năng lượng - Nền tảng phát triển bền vững

Vấn đề an ninh năng lượng không những cần bảo đảm đủ mà còn phải ổn định trong thời gian dài.

Toàn cảnh tọa đàm. Ảnh: Uyên Hương/BNEWS/TTXVN

Do đó, Việt Nam cần có lộ trình cụ thể, đáng tin cậy, lâu dài nhằm bảo đảm cho vấn đề an ninh năng lượng. Đây là ý kiến được các chuyên gia đưa ra tại Tọa đàm “Đảm bảo an ninh năng lượng - Nền tảng phát triển bền vững” do Báo điện tử Đại biểu Nhân dân tổ chức ngày 12/6.

Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050 đề ra mục tiêu phấn đấu đảm bảo cung cấp đủ năng lượng cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, cụ thể đến năm 2020 đạt khoảng 100 - 110 triệu TOE năng lượng sơ cấp và khoảng 310- 320 triệu TOE vào năm 2050.

Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia điều chỉnh giai đoạn 2011- 2020 có xét đến năm 2030 đặt ra các mục tiêu cung cấp đủ nhu cầu điện trong nước, đáp ứng cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của cả nước với mức tăng GDP bình quân khoảng 7,0%/năm trong giai đoạn 2016- 2030.

Theo đó, dự kiến đến năm 2020, tổng công suất các nhà máy điện khoảng 60.000 MW, định hướng đến năm 2030, con số này đạt khoảng 129.500 MW.

Thực tế này đòi hỏi Việt Nam phải tiếp tục phát triển các nguồn năng lượng một cách hài hòa, hợp lý, trên cơ sở bảo đảm phát triển của cả nước trong các lĩnh vực kinh tế- xã hội, đồng thời cũng gắn với yếu tố bảo vệ môi trường, gắn với chất lượng tăng trưởng trên thực tế.

Chia sẻ tại tọa đàm, Chuyên gia năng lượng, nguyên Phó Viện trưởng Viện Năng lượng (Bộ Công Thương) Ngô Đức Lâm cho rằng, tầm quan trọng của an ninh năng lượng đứng ở vị trí thứ 5 trong số 7 vấn đề an ninh: quốc phòng, chính trị - xã hội, kinh tế, lương thực, năng lượng, nước và sinh thái, môi trường.

Vấn đề an ninh năng lượng không những cần bảo đảm đủ mà còn phải ổn định trong thời gian dài. Do đó, Việt Nam cần có lộ trình cụ thể, đáng tin cậy, lâu dài nhằm bảo đảm cho vấn đề an ninh năng lượng. Ngoài ra, cũng cần chú trọng yếu tố chi trả đủ về mặt tài chính của cả xã hội cho an ninh năng lượng.

Không thể đánh giá an ninh năng lượng một cách cảm tính. Năng lượng phải bảo đảm hai yếu tố như: đa dạng hóa các nguồn năng lượng sơ cấp như dầu, than, khí…; phải bảo đảm khả năng nhập khẩu năng lượng. Đây là hai tiêu chí bắt buộc với an ninh năng lượng của bất kỳ quốc gia nào; trong đó có Việt Nam”, ông Ngô Đức Lâm nói.

Mặc dù dự kiến đến năm 2025, Việt Nam đạt khoảng 60.000 MW nhưng trong hoàn cảnh kinh tế phát triển mạnh như hiện nay, việc bảo đảm an ninh năng lượng theo hướng đủ đã là khó đối với Việt Nam. Bởi, khi kinh tế- xã hội phát triển càng mạnh thì nhu cầu về năng lượng phải cao hơn.

Theo đó, muốn bảo đảm kế hoạch năng lượng đến năm 2030 thì Việt Nam sản xuất năng lượng khoảng 40 triệu tấn than và phải nhập khoảng 80 triệu tấn than. Nhưng Việt Nam chưa có lộ trình nhập than “dài hơi” như vậy.

Bà Ngụy Thị Khanh, Giám đốc Trung tâm Phát triển Sáng tạo Xanh (GreenID) cho rằng, nguy cơ thiếu điện sẽ xảy ra từ những năm 2020 là vấn đề hiện hữu được Tập đoàn Điện lực Việt Nam thừa nhận.

Có mấy nguyên nhân dẫn đến tình trạng này gồm nguồn điện đưa vào sử dụng theo dự kiến là 4.000-5.000 MW, nhưng nguồn này theo quy hoạch thì chủ yếu là nhiệt điện than. Tuy nhiên, báo cáo mới đấy nhất của Bộ Công Thương lại cho thấy đa phần dự án chậm tiến độ là các dự án nhiệt điện than.

Ngoài ra, có những nguồn mới là năng lượng tái tạo nhưng không được ưu tiên trong quy hoạch. Như vậy, một loạt nguồn năng lượng tái tạo, tính đến cuối tháng 6 này lên tới 5.000 MW điện mặt trời, nhưng bị vướng về vấn đề truyền tải, về hòa lưới.

Bài toán sử dụng hợp lý và hiệu quả năng lượng là vấn đề cần được xem xét. Nhiều ngành sử dụng điện phát triển dẫn đến ngành điện phải chạy theo để đáp ứng cho những ngành tiêu tốn điện năng như sắt, thép, xi măng...

Để giải đáp những nguy cơ thiếu hụt năng lượng, PGS.TS Bùi Thị An, Viện trưởng Viện Tài nguyên môi trường và Phát triển cộng đồng cho rằng: Chính phủ, Quốc hội và các nhà chuyên môn nên chọn nguồn nào cho phù hợp với Việt Nam: năng lượng tái tạo, nhiệt điện than, thủy điện, năng lượng mặt trời… với giá thành rẻ, bảo vệ môi trường để bảo đảm mọi người dân ta có đủ điện để sử dụng và sản xuất.

“Phải tính toán được các vấn đề như đầu vào của nhiệt điện than là bao nhiêu, công nhân bao nhiêu để có điện; năng lượng mặt trời là bao nhiêu, năng lượng gió là bao nhiêu… Tôi cho rằng, cần phải tính toán cụ thể, minh bạch để tham mưu cho Chính phủ chọn loại hình nào cho phù hợp, vẫn bảo đảm an ninh năng lượng, sự hài hòa về môi trường, bảo đảm hưởng thụ - trong ngưỡng chịu được về giá của người dân...”, PGS. TS Bùi Thị An khẳng định./.

Uyên Hương/BNEWS/TTXVN