'Cổ tích' trên đỉnh Trường Sơn

Ở ngôi làng nhỏ nằm lọt thỏm giữa bốn bề rừng núi A Dơi, có một cựu binh đang dốc sức bảo vệ màu xanh của núi rừng. Và ông cũng là người vượt qua lời nguyền, bất chấp hủ tục để cưu mang những đứa trẻ người Pa CôVân Kiều mồ côi, không nơi nương tựa.

Ông là Hồ Mơ (81 tuổi, ở thôn Prin C, xã A Dơi, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị), thương binh hạng 3/4 - người từng bốn lần được phong tặng danh hiệu “Dũng sỹ diệt Mỹ”.

17 tuổi khoác ba lô theo cách mạng

Mất mấy tiếng đồng hồ, tôi mới từ thị trấn Khe Sanh vào đến được A Dơi. Khi bánh xe chạm vào thôn Prin C, cũng là lúc mặt trời xuống núi. Thấy có khách, già Mơ tấp tểnh ra mở cổng. Tuy đã ở cái tuổi “xưa nay hiếm”, lại bị mất một chân trong cuộc chiến năm xưa, song già vẫn còn minh mẫn, giọng nói vẫn còn hào sảng lắm. Nhắc nhớ lại thời binh lửa, đôi mắt “dũng sỹ” Hồ Mơ ánh lên niềm tự hào khôn xiết. Bên ấm trà pha đặc, câu chuyện về cuộc đời già được tãi ra, như một thước phim quay chậm.

Già Mơ kể, hồi còn thanh niên, già là một trong những người nổi tiếng về sức vóc. Sinh ra và lớn lên trong thời chiến tranh, li loạn nên già sớm phải chứng kiến cảnh bản làng bị giày xéo. 17 tuổi, Hồ Mơ bắt đầu đi theo cách mạng. “Chiến tranh không chừa một bản làng, ngõ xóm nào cả, đạn pháo địch ngày đêm cứ nã mịt mùng, tai ương gieo rắc khắp nơi. Lúc ấy, mình có sức khỏe, có sự lanh lợi thì càng phải cùng đồng bào đứng lên chiến đấu giành lại độc lập”, già Mơ quả quyết.

Vào tháng 4/1964, nhờ sự can trường, dũng cảm, lập nhiều chiến công và bốn lần được tặng danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”, nên anh bộ đội Mơ được tín nhiệm giữ chức vụ Tiểu đoàn trưởng B45 – K54, thuộc Quân khu Trị Thiên – Huế. Trong một trận kịch chiến với địch vào mùa xuân năm 1969, khi mặt trận Đường 9 – Nam Lào bước vào giai đoạn ác liệt nhất, Hồ Mơ không may bị thương nặng nên phải di chuyển ra miền Bắc để điều trị. Suốt nhiều năm ròng rã luân chuyển qua nhiều bệnh viện, trạm quân y khác nhau, đến năm 1981, Hồ Mơ trở về quê hương, mang trong mình thương tật 34% và vĩnh viễn mất một nửa ống chân vì bom đạn chiến tranh. Tuy vậy, già Mơ vẫn tận tụy cống hiến sức lực trong quân ngũ cho đến năm 1985 thì mới về nghỉ hưu.

Từ lâu, gia đình “bố Mơ” là nơi nương tựa của những đứa trẻ mồ côi

Trở về từ chiến trường, già Mơ phải đối mặt với trăm ngàn thiếu khó. Lúc bấy giờ, chả cứ gì quê hương già mà khắp vùng phía Tây của tỉnh Quảng Trị đều tiêu điều, xơ xác. Thổ nhưỡng vùng này vốn khô cằn sỏi đá, từng là căn cứ, chiến hào trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt. Trong lòng đất còn tiềm ẩn những cái chết bất ngờ bởi không ít bom đạn chưa phát nổ còn sót lại. Đã vậy, người dân ở đây còn bị ràng buộc bởi biết bao hủ tục lạc hậu đè nặng khiến cuộc sống của bà con càng thêm lam lũ, khổ ải.

Đối với nhiều người, đây chả khác gì “Vùng đất chết”, nhưng đối với người cựu chiến binh Hồ Mơ thì “tấc đất tấc vàng”, già quyết tâm bằng mọi giá phải “biến sỏi đá thành cơm”. Vậy là từ đó, già mày mò tự đọc tài liệu hướng dẫn, cái gì chưa biết thì hỏi rồi tự mua cây giống trồng thử. Có những phương pháp già làm đúng theo hướng dẫn của cán bộ lâm nghiệp, cũng có phương pháp là do già tự nghĩ ra. Chẳng hạn như dùng lá cây rừng để làm phân xanh cho cây trồng hay đào rãnh thoát nước mưa để giữ đất, đào mương dẫn nước từ các khe suối quanh đó về để sản xuất nông nghiệp...

Tinh thần vượt khó của Bộ đội Cụ Hồ

“Vạn sự khởi đầu nan”, thật khó để kể hết những khó khăn, thử thách mà Hồ Mơ và gia đình đã phải vượt qua. Do thiếu hiểu biết và kinh nghiệm, thất bại ban đầu của già là điều dễ hiểu. Cây cối còi cọc, hoa màu vụ được vụ mất, không biết bao nhiêu lần già cùng vợ lên rẫy nhổ những cây đã chết, lòng quặn thắt.

Không đầu hàng số phận, tinh thần vượt khó của Bộ đội Cụ Hồ thôi thúc Hồ Mơ cùng vợ lại bắt tay làm lại. Và rồi đất đã không phụ công người. Dưới đôi tay cần cù của gia đình già, đá sỏi phải nhường đất cho cây, no ấm bắt đầu bén rễ trên đất nghèo. Để phát triển kinh tế gia đình và có thêm đồng ra đồng vào, già tích cực đầu tư thâm canh trồng lúa nước. Tận dụng tiềm năng đồng cỏ sẵn có, già mở rộng chăn nuôi trâu bò, lợn gà, rồi trồng thêm cây hồ tiêu, cà phê…

Nhờ sự cần cù chịu thương chịu khó cộng với sáng bụng trong làm ăn nên gia đình cựu binh Hồ Mơ dần thoát nghèo, có của ăn của để. Không chỉ muốn làm giàu cho bản thân, gia đình, già Mơ còn tích cực giúp đỡ bà con trong bản có hoàn cảnh khó khăn. Già sẵn sàng bỏ ra hàng chục triệu đồng để mở đường từ xã vào bản Prin C cho bà con thuận tiện trong việc di chuyển. Mỗi khi nghe tin nhà nào bị mất mùa hay đói kém, già lại bảo các con đem tiền, gạo đến từng hộ để cứu trợ, đem con, cây giống để dân bản gây dựng lại cơ nghiệp.

Khi cây lúa, cây rau phủ xanh khắp các thửa ruộng, triền nương, đời sống cũng ổn định hơn thì già Mơ cùng vợ con lại bắt tay vào công cuộc làm hồi sinh lại những mảng rừng bị tàn phá. “Ngày trước, rừng ở A Dơi bạt ngàn nhưng rồi bom đạn thời chiến đã cày xới tan hoang, phần vì bị người ta chặt phá, phần vì tập tục canh tác lạc hậu của bà con nên diện tích cứ dần thu hẹp lại. Chỉ còn lác đác những cây nhỏ, cỏ dại và lau lách mọc cao vút, che hết ánh sáng khiến những cây non rất khó sinh sôi”, già Mơ nhớ lại.

Lúc ấy, vợ chồng già Mơ cùng các con cầm cuốc, rựa quần quật cả ngày để phát quang. Nhưng sức người có hạn, diện tích lau lách, cỏ rả bị băm, chặt hết sức khiêm tốn. Về sau, già Mơ nghĩ ra cách lùa trâu, bò vào một khoảnh rừng đã rào sẵn để cho chúng ăn sạch cỏ. Hết khoảnh này, già lại lùa chúng sang khoảnh khác nên chẳng mấy chốc mà những trảng rừng đã hồi sinh, đâm chồi xanh mơn mởn.

“Ngày đó nhiều người cứ bảo tôi là lão “gàn” nhưng tôi kệ. Cứ nghĩ trời không phụ lòng người nên cứ thế mà cố gắng thôi. Hơn nữa, mình sinh ra từ rừng, rừng chở che, nuôi sống mình, phải bảo vệ nó chứ. Mỗi lần chứng kiến cảnh rừng bị phá, bị tận diệt, tôi xót lắm. Thế là mỗi lúc rảnh rỗi, tôi lại vào rừng. Vừa để trông nom, đẩy đuổi lâm tặc, vừa tìm và tháo dỡ bẫy thú rừng”, già Mơ nhớ lại.

Dẫu tuổi cao, bệnh tật song già Mơ vẫn một lòng giữ và bảo vệ rừng

Cứ thế, hàng chục năm qua, già Hồ Mơ như người “kiểm lâm” tận tụy ngày đêm canh giữ, bảo vệ những cánh rừng, không cho ai chặt phá, hủy hoại. Vừa làm ông vừa nhắc nhở, vận động bà con trong bản làm theo nên được mọi người rất đồng tình hưởng ứng, tình trạng chặt phá làm rẫy hay cháy rừng cũng chấm dứt.

Cưu mang những đứa trẻ mồ côi

Nhớ lời Bác dạy “Lòng dân đói, bụng dân không yên thì làm sao bảo vệ được Tổ quốc”, thế nên khi gia đình đã không còn đứt bữa, kinh tế ngày càng khấm khá, già Mơ lại tìm cách để giúp đỡ hàng xóm láng giềng. Ngoài việc tuyên truyền, hướng dẫn, giải thích cho bà con cách trồng lúa nước và các loại hoa màu, già còn thường xuyên giúp đỡ những gia đình nghèo khó, thậm chí là nhận cưu mang những đứa trẻ mồ côi.

Vào khoảng đầu những năm 80 của thế kỷ trước, quê Hồ Mơ lúc đó nghèo lắm, nạn đói hoành hành triền miên. Để có cái ăn, từ người già đến trẻ nhỏ phải quăng quật suốt ngày trên nương rẫy. Năm nào trời thương thì có bữa sắn độn cơm, gặp năm mất mùa thì sắn hay măng rừng cũng khó kiếm. Bởi vậy, miếng ăn chưa đủ, manh áo chẳng lành khiến sức khỏe của bà con không được đảm bảo, nhiều cặp vợ chồng đổ bệnh lại không có thuốc men chữa trị kịp thời nên qua đời.

Cha mẹ mất đi để lại những đứa con nheo nhóc, cù bất cù bơ, không nơi nương tựa, thậm chí có những đứa còn bị bỏ rơi ngay từ lúc mới lọt lòng. Bởi từ thời xa xưa, đồng bào đã quan niệm, những đứa trẻ mà cha mẹ chết là “cao vía”, là “ma nhập” nên phải cách ly với cộng đồng. Chúng lang thang như con thú giữa rừng. Kiếm ăn, vạ vật, bạ đâu ngủ đó. Thấy vậy, già Mơ động lòng thương xót, rồi khăn đùm khăn gói lội suối băng rừng đến bồng bế từng đứa về nuôi dưỡng như con đẻ. Cứ thế, nhân khẩu trong ngôi nhà của già Mơ ngày một nhiều lên, tất cả cùng đùm bọc, sẻ chia với nhau từng củ sắn, củ mài, bữa rau, bữa cháo đạm bạc qua ngày.

Duỗi cái chân gỗ, bị cụt tới quá đầu gối ra sàn nhà cho đỡ vướng, cựu binh Hồ Mơ bộc bạch: “Cả bản làng, tôi là người đông con cháu nhất, đứa nào cũng chăm ngoan và sống tử tế. Tôi thương chúng như con ruột, chăm lo từng miếng ăn giấc ngủ. Bây giờ đến lúc chúng đủ lông đủ cánh ra đời bươn chải rồi nhưng tôi vẫn còn lo lắm. Mỗi một mùa rẫy mà bọn trẻ không về là nhớ quay nhớ quắt, đứng ngồi không yên”.

Câu chuyện về già Hồ Mơ chả khác gì cổ tích, ngày ngày lan truyền khắp rẻo cao sơn cước. Bà con người Pa Cô, Vân Kiều ở đây truyền tụng nhau, gọi già bằng những danh xưng trìu mến như “bố Mơ”, “ông Bụt”… Từ năm 1980 đến nay, “bố Mơ” đã chăm nuôi cho 17 trẻ mồ côi cha mẹ, trong đó có những trẻ ở các bản làng Lào có họ hàng với người Việt bên này. 17 đứa là 17 câu chuyện khác nhau nhưng tựu chung đều giống nhau ở chỗ: Chúng là những đứa trẻ bất hạnh, sớm mất đi chỗ dựa là cha mẹ, người thân. Bởi vậy, già Mơ luôn tìm cách để bù đắp tình cảm cho các con, đứa nào cũng được ông bế bồng, cho ăn học tới nơi tới chốn, đứa nào cũng được chăm bẵm, nuôi nấng và dạy cách làm người. Đến khi các con đã trưởng thành, ông lại đứng ra dựng vợ gả chồng rồi cho mỗi đứa con một nếp nhà sàn, cho trâu bò để lấy vốn làm ăn.

Một góc A Dơi

“Mình sống ở đời phải có cái tình người chứ đâu phải vô tri như cục đá, viên sỏi lăn lóc được. Thấy con cháu sống vui vẻ, thành người, lại biết yêu thương đùm bọc nhau là bố vui cái bụng lắm rồi. Đời bố thế là trọn vẹn”, “bố Mơ” cười mãn nguyện, mắt dõi về những cánh rừng xa xanh thẳm.

Quả thật, vùng đất biên cương nắng gió trên đỉnh Trường Sơn này trân trọng và biết ơn lắm những người lính, những cựu chiến binh “súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa”, hết lòng vì bản làng và cộng đồng dân tộc mình như Hồ Mơ. Cuộc đời của già là nối dài những cống hiến vì sự bình yên và phát triển của vùng đất biên viễn xa xôi, khuất nẻo này từ những ngày bị áp bức đến quá trình đấu tranh cách mạng và trong cả công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội ngày nay.

Nam Hoàng