Chuyến Nam du và nhiệm vụ “thượng khẩn”

Với tầm nhìn của một lãnh tụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm nhận thấy những khó khăn, thách thức của tình hình đất nước, đặc biệt là ở Nam bộ sau Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945. Vì vậy, ngay sau Quốc dân Đại hội Tân Trào, Hồ Chí Minh đã triệu tập cuộc họp khẩn của Thường vụ Trung ương Đảng gồm các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Lương Bằng để bàn những công việc phải làm trước mắt, đặc biệt phải cử ngay một đồng chí thay mặt Thường vụ Trung ương và Tổng bộ Việt Minh vào Nam bộ để chỉ đạo và kiểm tra cuộc khởi nghĩa giành chính quyền.

Chuyến Nam du và nhiệm vụ “thượng khẩn” - Ảnh 1

Đồng chí Hoàng Quốc Việt và các đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại
Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh- Liên Việt, Việt Bắc, tháng 3- 1951.

Là một lãnh đạo dày dạn kinh nghiệm, như Tổng Bí thư Trường Chinh từng nhận xét: “Khi khăn đóng áo dài, khi com-lê ca vát dọc ngang khắp nước, móc nối, xây dựng và phát triển phong trào” và đã từng có thời gian hoạt động ở Nam Bộ, Hoàng Quốc Việt được Thường vụ Trung ương và Bác Hồ cử làm đặc phái viên của Đảng và Mặt trận Việt Minh tại miền Nam, đặc biệt là chính sách đại đoàn kết và chủ trương củng cố Đảng. Trước lúc ra đi Bác còn căn dặn: “Phải có mặt ở Nam Bộ sớm ngày nào hay ngày ấy”.

Nhận lệnh, đồng chí Hoàng Quốc Việt lúc đó là Thường vụ Trung ương Đảng đã cùng đồng chí Cao Hồng Lãnh, một cán bộ cấp cao của Đảng rời Tân Trào về Thái Nguyên ngay trong đêm. Và sáng hôm sau, từ Thái Nguyên về thẳng Hà Nội. Những ngày tháng Tám năm đó, nước sông lên to. Chúng tôi lúc đi mảng, lúc theo thuyền về xuôi; vừa đi, vừa cứu một số bà con bị nước cuốn. Về đến gần Bắc Ninh, thuyền cứ băng cánh đồng ngập mà tiến. Đến Yên Viên, nhìn lên đường nhựa, thấy xe ô tô cắm lá cờ đỏ sao vàng rất to và nhiều người dùng loa cùng hát các bài Diệt phát-xít, chiến sĩ ca. Giữa hai bài hát cách mạng là bản tin. “A-lô, a-lô, lực lượng khởi nghĩa do Việt Minh lãnh đạo từ bốn giờ chiều nay đã làm chủ Hà Nội. Chính quyền Hà Nội đã hoàn toàn về tay ta”.

Để vào Nam phải có xe hơi. “Moi” đâu ra xe trong hoàn cảnh này? Hai người rủ nhau ra bờ hồ Hoàn Kiếm. Đường phố đông đúc đúng như ngày Hội. Từng đoàn anh chị em tự vệ trang bị súng, gậy, dao đi rầm rập giữa lòng đường. Đến vườn hoa Nhà Kèn nay là vườn hoa Lý Thái Tổ, cạnh bưu điện thấy một chiếc xe kiểu Rơ-nôn phủ đầy bụi đường. Bác tài xe có cái trán hói ngồi trước vô-lăng, ngửa đầu ra sau, nhắm mắt, ngáy phò phò. Cả người lẫn xe đều tỏ ra mệt mỏi. Hóa ra, đó là xe của chị Nguyễn Thị Thập, đại diện Xứ Ủy Nam Kỳ ra dự Quốc dân Đại hội Tân Trào đang tính đường về nhưng không kiếm đâu ra xăng-dầu.

Mừng quá, đồng chí Hoàng Quốc Việt vào tòa thị chính, cơ quan vừa được nhân dân cách mạng tiếp quản, lùng xục khắp nơi và cuối cùng đã tìm ra kho xăng và nhờ anh em tự vệ khuân cho vài phuy.

Bẩy giờ tối, xe chuyển bánh. Ra khỏi thành phố, xe phải dừng liên tục để dân quân, tự vệ kiểm soát giấy tờ. May là đoàn có mang Lệnh của Tổng bộ Việt Minh nên mọi việc đều chót lọt. Dọc chiều dài đất nước, đồng chí Hoàng Quốc Việt gặp lại biết bao đồng chí, đồng đội, những bạn tù năm xưa ở Côn Đảo, hoặc đã từng “nằm gai, nếm mật” trong những năm cách mạng ở vào lúc thoái trào: Anh Đinh Tiến Dũng đang chỉ đạo ở Nam Định, anh Lê Tất Đắc ở Thanh Hóa, anh Lê Viết Lượng, anh Nguyễn Tạo – người mấy lần vượt ngục thành công; Anh Nguyễn Chí Thanh, anh Lành (Tố Hữu) ở Huế; Lê Văn Hiến và Lê Dung ở Đà Nẵng … Qua các anh, Đoàn nắm được tình hình ở các địa phương và kịp thời điện báo cáo gấp về Trung ương và Bác Hồ.

Quảng Ngãi là địa phương gây ấn tượng mạnh cho Đoàn: Không khí hừng hực đấu tranh, biểu tình tuần hành vũ trang rầm rập. Chị em tự vệ cắt tóc ngắn, kề mác nhọn vào bánh xe của đoàn bắt “đứng lại”. Đoàn đưa lệnh của Tổng bộ Việt Minh, các chị cũng không nghe. Đoàn thuyết phục mãi, các chị mới chịu đưa Đoàn đi gặp anh phụ trách. Hóa ra là anh Trần Quý Hai, vừa đi họp Đại hội Quốc dân Tân Trào về Đoàn hỏi ngay: Vì sao phụ nữ ở đây lại cắt tóc ngắn như nam giới? Đó là Lệnh của Trung ương “Phụ nữ cấp tốc phát triển phong trào” do điện không có dấu nên địa phương đọc thành “phụ nữ cắt tóc phát triển phong trào” một dịp cười ra nước mắt. Trong phần báo cáo với Đoàn, anh Hai có nói: Đã bắt được Ngô Đình Diệm và bốn tên lính Nhật đang trói ngoài gốc cây dừa, chờ xử lý. Đồng chí Hoàng Quốc Việt hỏi ngay?

- Thế đồng chí đã nhận được Lệnh của Thượng cấp chưa?

- Chưa, Lệnh nói gì? Anh Hai đáp.

Đồng chí Hoàng Quốc Việt nói về chính sách của Mặt trận Việt Minh đối với nhân sĩ, trí thức vốn là quan lại của triều Nguyễn, cần có sự phân hóa để thực hiện chủ trương đoàn kết rộng rãi. Riêng với những nhân sĩ, trí thức tiêu biểu, các địa phương phải đưa ra Trung ương để Bác xem xét và xử lý. Thế là ông Ngô Đình Diệm được đưa ra Hà Nội gặp Bác Hồ và được Người phong cho chức cố vấn của Vĩnh Thụy (tức cựu hoàng Bảo Đại) còn công dân Vĩnh Thụy được phong chức Cố vấn tối cao của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đến Phú Yên, đoàn công tác phải dừng lại khá lâu. Ở đây lại có hai tổ chức Việt Minh, chủ trương cứu nước, Điều lệ không khác nhau; các Hội cứu quốc ở dưới đều là một nhưng khi cướp được chính quyền rồi thì tự nhiên hình thành hai nhóm: Nhóm Việt Minh của Nguyễn Ái Quốc và nhóm Việt Minh của Hồ Chí Minh. Đoàn công tác của Trung ương đến đúng vào lúc hai bên đang tranh cãi quyết liệt. Nghe hai bên phân trần cả tiếng đồng hồ, Đoàn mới vỡ lẽ, đồng chí Cao Hồng Lãnh cười lớn giới thiệu với Hội nghị: Đây là đồng chí Hoàng Quốc Việt - Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng, đại diện Tổng bộ Việt Minh của cả Nguyễn Ái Quốc lẫn Hồ Chí Minh. Xin để đồng chí ấy giải thích.

Đồng chí Hoàng Quốc Việt mới chỉ nói mươi câu đã thấy phòng họp sôi nổi hẳn lên một không khí mới. Câu hỏi Hồ Chí Minh là ai? đã được giải đáp. Anh em hai nhóm Việt Minh ôm nhau vui mừng, cảm động rơi nước mắt.

Đúng một tuần sau ngày rời Hà Nội, Đoàn mới vào đến Biên Hòa, địa đầu của Nam Bộ. Vừa nghe bác tài reo lên: “Đất Nam Kỳ rồi” thì gặp ngay chuyện bất ngờ. Chẳng là, có một nhóm biệt kích Pháp, vừa nhảy dù xuống rừng cao-su Biên Hòa bị quân ta bắt sống. Xe áp giải bọn này vừa rẽ lên đường quốc lộ thì gặp xe của Đoàn công tác. Anh em tự vệ liền giữ Đoàn để kiểm tra giấy tờ. Tuy Đoàn đã trình đủ các loại giấy tờ, kể cả Lệnh đặc biệt của Trung ương nhưng anh em vẫn không tin và ra lệnh bắt giam tất cả thành viên của Đoàn. Về đến khám Chí Hòa thì sự hiểu lầm đó mới được giải quyết khi cán bộ phụ trách ở đây nhận ra đồng chí Nguyễn Thị Thập – Bí thư Xứ Ủy.

Sau khi giành được độc lập, trong những ngày đầu tình hình Nam Bộ rất phức tạp. Đó là vấn đề Việt Minh mới - Việt Minh cũ, vấn đề dân chủ Đảng; sự không thống nhất giữa các đảng viên của Xứ ủy “Tiền Phong” và Xứ ủy “Giải phóng”; sự tranh chấp lực lượng vũ trang giữa các giáo phái…

Thực hiện nhiệm vụ mà Bác Hồ và Tổng bộ Việt Minh giao, đồng chí Hoàng Quốc Việt đã cùng các Xứ ủy giải quyết một loạt vấn đề cấp bách. Một trong những việc quan trọng lúc đó là: Theo chủ trương của Trung ương, trong tình hình cách mạng vừa giành được chính quyền ở Xứ Nam Kỳ, cần mời một trí thức yêu nước ra đứng đầu chính quyền thay cho một đồng chí trong Xứ ủy đang làm Chủ tịch Ủy ban hành chính Nam bộ. Không phải chủ trương nào của Đảng, của Bác Hồ cũng được cán bộ, đảng viên dễ dàng chấp nhận và thi hành ngay. Có đồng chí mình cứ đinh ninh rằng, cướp được chính quyền rồi, người cộng sản phải nắm giữ hết các chức vụ chính quyền thì cách mạng mới vững được. Nhất trí với Xứ Ủy, đồng chí Hoàng Quốc Việt nhiều lần gặp gỡ, vận động, thuyết phục luật sư Phạm Văn Bạc, một trí thức nổi tiếng Sài Gòn thời đó, cuối cùng ông cũng chấp nhận làm Chủ tịch với điều kiện “Đảng phải giúp đỡ tôi nắm cơ quan, nắm công việc”. Tiếp đó, là việc giải tán “Cộng hòa Vệ binh”, một tổ chức quân nhân cách mạng mới được thành lập với mũ mã, lon, ngù, ghệt và các nghi thức, quân phong, quân kỷ mô phỏng theo quân đội Anh. Thay thế vào đó là các đội tự vệ của nhân dân cách mạng, một đội quân “cơm nhà lo việc nước”. Rồi bàn những đối sách với quân Anh - Ấn đang chuẩn bị với danh nghĩa đồng minh vào giải giáp quân Nhật, còn mấy tiểu đoàn thực dân Pháp lăm le cướp lại đất nước ta.

Công tác cấp bách số một lúc ấy là tổ chức đón anh chị em tù cộng sản ngoài Côn Đảo trở về. Từ sau Nam Kỳ Khởi nghĩa, tù chính trị bị chúng đầy ra Côn Đảo có tới vài nghìn người. Phải bằng mọi cách đưa ngay các đồng chí mình về, sớm ngày nào hay ngày đó. Đây là nguồn bổ sung cán bộ quý báu cho các địa phương và Trung ương – những cán bộ được rèn luyện, đào tạo trong “một nhà trường độc đáo”.
Có hai chủ trương đưa ra về cách đón. Một là tìm mấy tàu thật to, thật sang, treo đèn, kết hoa, mang theo nhạc binh rầm rộ đón anh chị em như đón những anh hùng của thời đại. Nhưng kiếm đâu ra tàu to lúc này? Hai là, vận động nhân dân cho mượn ghe thuyền ra đảo. Chỉ có cách đó là nhanh nhất. Đồng chí Tưởng Dân Bảo, một đảng viên cộng sản được giác ngộ từ hàng ngũ Quốc dân Đảng đã từng bị bọn thủ lĩnh lưu mạnh hóa của Quốc dân Đảng tuyên án “xử tử” và cổ còn mang một vết sẹo khoanh vòng, đã xung phong nhận nhiệm vụ cùng mấy chục anh em đi ngay.

Mấy ngày sau, hơn ba chục chiếc ghe lớn của nhân dân Gò Công và Kiến Phước đã được tập kết, chờ lệnh xuất phát. Ngày 16-9 đoàn ghe thuyền kéo cờ, căng buồm ra khơi đưa đón đồng chí đồng đội trở về.

Vừa vào đất liền, các đồng chí được phân công công tác ngay, chẳng có thời gian thăm nom gia đình và bạn bè thân thiết. Một số đồng chí được bổ sung vào Xứ Ủy, số đông nhận công tác tại các tỉnh. Bác Tôn Đức Thắng sau mười bảy năm khổ sai ngoài đảo, lái chiếc ca-nô tự sửa, bị bão đánh dạt xuống mãi cửa biển Mỹ Thanh, về tập kết muộn, chỉ kịp gặp bác gái và con cháu giữa vòng vây của đồng bào, đồng chí. Và ngay đêm hôm đó, đến Xứ Ủy nhận nhiệm vụ mới.

Thực hiện Chỉ thị của Trung ương về việc hợp nhất tổ chức và hoạt động của Xứ Ủy Nam bộ, ngày 15-10-1945 tại Cầu Vỹ (Mỹ Tho) diễn ra cuộc họp quan trọng giữa Xứ Ủy Tiền Phong và Xứ Ủy giải phóng và một số đại diện các tỉnh ủy, một số cán bộ tù Côn Đảo do đồng chí Hoàng Quốc Việt chủ trì. Hội nghị đã đi đến quyết định: Thống nhất chủ trương, biện pháp đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, thống nhất hai Đảng bộ Tiền Phong và Giải phóng làm một và tuyên bố dứt điểm không cho phép một đảng viên nào hoạt động riêng rẽ. Một Xứ Ủy mới được bầu gồm 11 đồng chí: Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn, Phạm Hùng, Trần Ngọc Danh, Lê Văn Sĩ, Nguyễn Văn Nguyễn, Nguyễn Văn Kĩnh, Hoàng Dư Khương, Nguyễn Thị Thập, Ung Văn Kiêm, Hà Huy Giáp do đồng chí Tôn Đức Thắng làm Bí thư.

Và cũng từ đây mới chấm dứt tình trạng Việt Minh cũ, Việt Minh mới và các lực lượng vũ trang sáp nhập vào Việt Minh.

Nguyễn Tiến