Câu chuyện xuất khẩu cá

(TBKTSG) - Năm 1998 khi xuất khẩu gạo đạt 1 tỉ đô la, tôm đạt 430 triệu đô la thì xuất khẩu cá còn ở mức dưới 70 triệu đô la. Nhưng sự thay đổi đã diễn ra rất nhanh trong những năm tiếp theo. Đến năm 2008 xuất khẩu cá đã lên đến gần 2 tỉ đô la, vượt xuất khẩu tôm và đang đua với xuất khẩu gạo. Liệu có thể duy trì mức độ tăng trưởng này trong dài hạn?

Võ Hùng Dũng Từ thần kỳ đến tăng trưởng nóng Từ năm 2000-2009, riêng kim ngạch xuất khẩu cá tra (và ba sa) đã tăng 930 lần về sản lượng và 560 lần về kim ngạch. Diện tích nuôi năm 2008 là 6.160 héc ta, cung cấp sản lượng cá hơn 1,1 triệu tấn, chế biến 633.000 tấn, xuất khẩu hơn 1,4 tỉ đô la. Tính bình quân 1 héc ta nuôi đạt sản lượng 183 tấn, cung cấp cho chế biến 103 tấn thành phẩm và xuất khẩu 234.000 đô la Mỹ. Không có ngành nào trong nông nghiệp hiện nay tạo ra được năng suất cao đến mức này và cũng không có ngành hàng xuất khẩu nào của Việt Nam đạt mức tăng trưởng cao như vậy liên tục trong nhiều năm. Lợi nhuận cao do xuất khẩu mang lại đã tạo nên cơn sốt đầu tư. Sản lượng cá nuôi ở ĐBSCL năm 2008 tăng gấp 12 lần so với năm 1995. Trong vòng năm năm, từ 2003-2008, số nhà máy chế biến thủy sản tăng 2,3 lần, công suất thiết kế tăng 2,7 lần, số nhà máy chế biến thức ăn tăng 3,5 lần về số lượng và công suất. Hàng loạt dịch vụ phục vụ cho ngành cá ra đời, hình thành nên cụm ngành thủy sản chuyên về cá ở ĐBSCL cung ứng cho xuất khẩu trên 1 tỉ đô la Mỹ mỗi năm, sử dụng hàng triệu lao động chỉ trong một thời gian chưa đầy 10 năm. Năm 2006 là thời điểm bùng nổ của con cá tra, giá cá tăng vọt bất thường, rồi sau đó sụt giảm cũng đầy kịch tính như lúc tăng. Giá thức ăn (chiếm đến 60% giá thành) đến thời điểm tháng 4-2010 đã tăng 65% so với tháng 3-2006, nhưng giá cá xuất khẩu thì lại giảm liên tục trong nhiều năm và giảm rất sâu. Giá cá xuất khẩu trung bình năm 2009 chỉ còn bằng 60% so năm 2000. Nông dân, những người góp phần đáng kể trong câu chuyện thần kỳ của ngành cá là nạn nhân đầu tiên, và là nạn nhân lớn nhất của tình trạng suy giảm. Năm 2009, kim ngạch xuất khẩu cá tra chỉ còn 1,34 tỉ đô la Mỹ, giảm gần 8% so với năm 2008, và cũng là năm đầu tiên trong chuỗi dài liên tiếp sản lượng cá nuôi đã chững lại. Tình hình hiện tại ở khu vực nuôi nhìn chung là xấu. Hàng loạt ao nuôi bị treo vì người nuôi không còn chịu đựng được. Một số hộ nuôi đang nghĩ tới việc ra khỏi ngành. Ở khu vực chế biến không ít nhà máy đang chạy dưới công suất rất xa. Trung bình toàn ngành, công suất huy động ở dưới mức 50% so với thiết kế. Ngành cá đang bước vào chu kỳ suy thoái sau một số năm tăng trưởng. Nguyên nhân thì nhiều nhưng phần lớn không phải từ bên ngoài, không phải do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới mà đến từ bên trong. Cụm ngành (cluster) và chiến lược cạnh tranh của các nhà xuất khẩu cá Trong thời gian ngắn ngành cá có sự phát triển vượt bậc là nhờ sự hình thành cụm ngành hoạt động hữu hiệu, là một bước phát triển từ lợi thế so sánh sang lợi thế cạnh tranh. Ngành cá khởi phát từ An Giang, sau đó lan rộng sang các tỉnh vùng hạ nguồn do sự thích nghi kỳ lạ của con cá tra từ vùng nước ngọt sang cả vùng gần nước lợ. Sự mở rộng vùng nuôi mới làm gia tăng sản lượng và cụm ngành hình thành giúp tiết giảm chi phí, làm cho giá thành sản phẩm chế biến giảm. Điều này giải thích vì sao ngành cá có thể gia tăng đáng kinh ngạc như vậy trong khi giá giảm liên tục. Nhưng thay vì tận dụng những ưu thế này để làm lợi cho quốc gia (và cho mình) thì các nhà xuất khẩu đã làm điều ngược lại là liên tục hạ giá bán. Nhìn tổng thể, và trong nhiều năm chiến lược của các nhà xuất khẩu Việt Nam áp dụng là chiến lược cạnh tranh về giá. Nhưng lợi thế so sánh do tài nguyên không phải là của doanh nghiệp, mà là của quốc gia. Nhà nước có thể thu thuế tài nguyên, thuế chất thải mà các nhà máy thải ra nhưng đã không làm vì nhiều lý do. Vì thế chiến lược hạ giá này đã cung cấp lợi thế tài nguyên ra bên ngoài cho quốc gia nhập khẩu thụ hưởng. Trong khi đó, hầu hết các quốc gia nhập khẩu lại không cần sự giảm giá nhanh chóng và mạnh bạo như vậy. Ở một số trường hợp, họ đã quay sang kháng cự. Họ chấp nhận mức giá 3 đô la Mỹ/ki lô gam, họ cần một sự tăng trưởng vừa phải, họ cần chất lượng, họ cần sự đa dạng với nhiều phân khúc. Các nhà xuất khẩu cá thay vì phân tích lại chiến lược của mình thì quay sang đổ lỗi cho bên nước ngoài và tiếp tục hạ giá bán. Đây là điểm yếu của ngành mà các nhà xuất khẩu là người chịu trách nhiệm trực tiếp. Thể chế hỗ trợ cho nó cũng là vấn đề đáng để xem xét. Yếu tố thể chế So với ngành gạo, cá là ngành ít chịu sự quản lý hơn. Các nhà kinh doanh chế biến và xuất khẩu cá cũng tự do hành động và không bị ràng buộc bởi Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) so với các công ty xuất khẩu lương thực trong Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA). Bất cứ người nông dân nào cũng có thể nuôi cá, hay trở thành chủ một nhà máy chế biến cá với hàng ngàn công nhân trong một khoảng thời gian ngắn nếu họ huy động được vốn và vay được ngân hàng để đầu tư. Sự cởi mở đó có thể là một phần của sự gia tăng mạnh mẽ của ngành cá nhưng cũng là một phần của tình trạng lộn xộn. Việc ban hành các thể chế hỗ trợ cho phát triển đã không theo kịp với sự tăng trưởng của ngành. Năng lực cạnh tranh của cụm ngành luôn gắn liền với vai trò và hoạt động hữu hiệu của hiệp hội. VASEP là một hiệp hội khá thành công với nhiều hoạt động mang lại sự phát triển của ngành. Nhưng các thành viên VASEP vẫn chưa thể phối hợp được với nhau trong những chiến lược chung nhằm cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Sự suy giảm mức giá liên tục qua nhiều năm là một tổn thất lớn về thương hiệu, tài sản chung của Việt Nam. Thương hiệu của từng nhà máy đã không có mà thương hiệu chung cho ngành cá Việt Nam cũng chưa. Đầu tháng 9-2010, giá 1 ki lô gam pangasius tại siêu thị ở Hà Lan là từ 11-22 euro, bao bì của nhà phân phối ở nước nhập khẩu, không có tên tuổi gì của nhà xuất khẩu Việt Nam cả. Trong ngành cá, VASEP cũng mới chỉ tập hợp các nhà xuất khẩu, còn các nhà nuôi cá thì không nằm trong hiệp hội nào, hoặc chỉ ở các chi hội thủy sản địa phương không có được tiếng nói trong vấn đề chính sách và chiến lược kinh doanh của ngành. Nuôi và chế biến là hai bộ phận không thể tách rời nhau, là bộ khung mà không có đủ cả hai thì không thể hình thành nên cụm ngành cá. Hoạt động chính của VASEP hầu như không thiết lập mối quan hệ gì với người nuôi, hầu như không làm gì khi họ gặp khó khăn. Yếu kém này không hoàn toàn từ VASEP mà còn là vấn đề thể chế cho các hiệp hội. Triển vọng ngành cá phụ thuộc vào điều chỉnh mục tiêu và chiến lược cạnh tranh Ngành cá hiện nay đang trong giai đoạn điều chỉnh mang tính chu kỳ trong phát triển của ngành. Đó là quá trình sàng lọc những công ty yếu kém, nhưng cũng rất cần những hỗ trợ từ phía Chính phủ để bảo vệ các nền tảng cơ bản của ngành - đó là vùng nuôi và những người nuôi cá tham gia trong chuỗi giá trị. Không có vùng nuôi tốt và những người nuôi cá đầy năng lực thì sẽ không có cá để chế biến, xuất khẩu. Những người nuôi cá cần được hỗ trợ, huấn luyện không chỉ là nuôi cá, mà ý thức về cộng đồng, về y tế, vệ sinh, an toàn thực phẩm, về trách nhiệm xã hội, về sử dụng lao động… để bảo vệ lâu dài cho ngành cá. Triển vọng của ngành cá khá vững chắc. Mặc dù có các rào cản mới ở một số nước, nhưng không có dấu hiệu nào về sự đi xuống của thị trường tiêu thụ. Ngay cả các biện pháp áp thuế phá giá vừa đưa ra tại Mỹ cũng là dấu hiệu cho thấy nhu cầu tiêu dùng ở thị trường lớn đó đang gia tăng. Các biện pháp an toàn thực phẩm tuy có gây khó khăn cho các nhà xuất khẩu, nhưng đó thực ra là một phần trong thực hiện chiến lược khác biệt hóa làm tăng thêm lợi thế cạnh tranh mà các công ty cần vượt qua. Mục tiêu trước mắt, chí ít là trong năm năm tới của ngành cá, không nên là kim ngạch bao nhiêu tỉ đô la Mỹ mà nên là mức giá xuất khẩu được nâng lên. Nếu giá xuất khẩu duy trì được ở mức bình quân 3 đô la Mỹ/ki lô gam thì mỗi năm đã không mất đi 500-600 triệu đô la Mỹ với cùng mức sản lượng đã đạt được trong mấy năm qua. Ở mức giá 3 đô la Mỹ/ki lô gam thì lợi ích tối thiểu các bên trong chuỗi giá trị cá mới được đảm bảo. Với mức đó kim ngạch xuất khẩu cá tra sẽ vượt qua con số 2 tỉ đô la Mỹ, và lên đến 4-5 tỉ đô la Mỹ trong nhiều năm tới nhờ tiến bộ công nghệ và vùng nuôi mở rộng. Cần xây dựng thương hiệu và nhiều phân khúc sản phẩm của từng công ty để tạo nên sự khác biệt thay cho chiến lược cạnh tranh bằng giá hiện nay. Quản lý nhà nước cũng phải có những qui định áp dụng đảm bảo cho sự phát triển bền vững, đảm bảo cân bằng lợi ích các bên và xây dựng thương hiệu cho Việt Nam. Một số phát biểu mà VCCI Cần Thơ ghi nhận khi tiến hành khảo sát, phỏng vấn một số tác nhân trong chuỗi giá trị cá ở trong và ngoài nước: - “Năm 2005, giá bán 3 đô la Mỹ/ki lô gam, giá cá nguyên liệu là 12.000 đồng/ki lô gam; năm 2010 giá bán chỉ còn 2,4 đô la nhưng giá cá nguyên liệu: 15.800 đồng/ki lô gam. Nhà máy chế biến không lời”. (Phỏng vấn ở một nhà máy tháng 7-2010). - “Giá thức ăn chiếm 70% giá thành, nhưng tăng rất nhanh. Toa thuốc kỹ sư mấy chục triệu kham không nổi! Bị lỗ liên tục, nếu bán cá ra mà lời 1.000 đô la hộ nuôi vẫn gặp rủi ro. Hộ nuôi phải tự tìm người mua cá, địa phương không giúp. Nếu thấy bán cá có lời thì đến ủng hộ này nọ, còn lỗ thì không thấy họ ở đâu! Bây giờ đang nghĩ tới chuyển đổi kinh doanh gì khác, như là khách sạn khi không cầm cự được nữa. (Một hộ nuôi ở Long Xuyên, An Giang tháng 7-2009, có diện tích ao 7.000mét vuông, sản lượng 1.200 tấn cá/vụ, sử dụng 12 lao động, bình quân 1 lao động 1,5 triệu đồng/tháng có kinh nghiệm nuôi 10 năm). - “Điểm yếu của ngành cá Việt Nam là chính các công ty trong nước cạnh tranh nhau. Giá pangasius có thể chấp nhận được ở mức 3 đô la/ki lô gam, thị trường tiêu thụ cá Việt Nam đang tăng và có thể còn tăng nếu có thêm sản phẩm có giá trị gia tăng. Điều quan ngại của nhà nhập khẩu châu Âu là việc sử dụng lao động trẻ em ở các hộ nuôi. Nếu gặp phải vấn đề này thì nhà phân phối gặp nhiều rắc rối về uy tín, thương hiệu. Đó là vấn đề mà chúng tôi lo ngại xa thôi, chắc là ở Việt Nam không có. (Làm việc với một nhà chế biến và phân phối ở Hà Lan ngày 8-9-2010). (Võ Thị Thu Hương, phỏng vấn những người trong chuỗi giá trị cá)