Ca dao xứ Huế thời mất nước

QĐND - Huế là cái nôi sản sinh ra nhiều sản phẩm văn hóa, văn học dân gian, không thể lẫn lộn với bất kỳ một vùng đất nào khác. Yếu tố ngôn ngữ địa phương và tính cách văn hóa đã khiến cho văn học dân gian Huế có một chỗ đứng không dễ gì thay thế. Đặc biệt, trước những biến động thời cuộc, người Huế rất giỏi làm ca dao, hò vè... để thể hiện nỗi niềm cũng như bộc lộ sự phản kháng về ý thức. Trong một chuyến đi điền dã, chúng tôi đã bắt gặp những ca từ trong làn điệu hò giã gạo được một thế hệ cao niên nắm thuộc như lòng bàn tay.

Cầu Trường Tiền xứ Huế. Ảnh: Sỹ Nguyên

Khi thực dân Pháp tiến hành xâm chiếm nước ta, lật đổ triều đại phong kiến nhà Nguyễn và biến Việt Nam thành một nước thuộc địa, những câu ca dao xứ Huế cất lên đậm nỗi chua xót:

Mưa như mưa trên trời mưa xuống

Gió như gió ngoài Hà Nội thổi vô

Kể từ ngày thất thủ Kinh đô

Ông Tây qua giăng giây thép họa địa đồ nước Nam...

Mở đầu bằng sự ví von mưa gió biểu hiện sự khốc liệt của một thời đoạn. Câu ca dao cũng đưa ra một mốc lịch sử khá chính xác về việc chấm dứt vai trò lịch sử của nhà Nguyễn với tư cách là một triều đại độc lập, đó là ngày thất thủ Kinh đô. Bởi thế mới có chuyện “ông Tây họa địa đồ nước Nam”. Câu ca dao này vốn rất quen với người dân cố đô, nhất là hai câu cuối, được giới nghiên cứu sưu tầm khá nhiều dị bản. Đây cũng là một dị bản có giá trị cao về mặt văn phong, ngôn từ của nó.

Khi đã trở thành một thuộc địa, tình cảnh người dân ngay tại Kinh đô rơi vào những bế tắc:

Anh đi Tây bỏ cho em một bầy con dại

Tay dắt tay bồng thảm hại lắm anh ơi

Trên đầu anh đội nón chữ son

Vai mang khẩu súng

Miệng còn “oong đơ”

“Oong đơ” chi nữa mà “oong đơ”

Bỏ con bỏ vợ mà đi về bên Tây

Những người đàn ông bị bắt lính, đó là một bất hạnh của những gia đình nghèo khó, bị chính quyền thực dân đè đầu cưỡi cổ. Những lời của một thiếu phụ có chồng đi lính Tây nêu trên đầy sự oán thán của một chế độ thuộc địa bóc lột người. Bắt lính đày ra chiến trường để thí mạng hay làm con tốt để “dĩ Việt trị Việt”?. Thời Pháp thuộc, hàng nghìn người Việt bị ép buộc phải nhập ngũ đày sang các chiến trường châu âu, châu Phi... làm bia đỡ đạn cho quân Pháp trong hai cuộc đại chiến thế giới. Tin chồng đi lính khiến người vợ đau khổ mà dằn mình:

Anh bước chân lên ga

Ông quan ba ký giấy

Anh nỡ lòng nào anh vội lấy sang Tây

Thiếp can chàng không được

Sát xuống suối vàng làm chi”

Người ở lại sướt mướt chia ly, người ra đi cũng không đành lòng nên căn dặn vợ hiền:

Biển rộng mông mênh cả thuyền với sóng

Em nghe tàu chạy ầm ầm

Nhớ bóng hiền thê

Chàng đi 3 năm mãn hạn chàng về

Khuyên thiếp ở nhà nuôi bốn niềm thân phụ

Bát nước cơm canh cho vững vàng

Trong lời lẽ ấy thấm đẫm nước mắt của một chinh phu, không nỡ dứt áo ra đi, bỏ lại vợ hiền cực nhọc “nuôi bốn niềm thân phụ” gồm cả hai bề cha mẹ mình và cha mẹ chồng. Rồi khi sự uất hận dâng lên ngút trời, người dân cố đô đã “nện” vào chính quyền thuộc địa những lời lẽ bài xích hết sức mỉa mai, phẫn nộ:

Chán chi rau ăn mà ăn rau bát bát

Chán chi bạc mà tiêu bạc Đông Dương

Chán chi người thương mà thương bảo vệ

Chán chi người tử tế mà lấy thằng Tây

Một mai nước nhà độc lập

Chúng bay tau chặt đầu!

“Lấy thằng Tây” là một sỉ nhục trong con mắt của người Việt dưới chế độ thuộc Pháp. Những người phụ nữ đó bị khinh miệt như những người hủi, bởi thế Vũ Trọng Phụng mới lên án trong các tác phẩm “Kỹ nghệ lấy Tây”, “Số đỏ”… Dân ta hận quá mới dọa “Chúng bay tau chặt đầu” đủ hiểu sự điên tiết đã lên mức độ nào. Và sự phản kháng đã được động viên tiếp sức dưới ngọn cờ cách mạng, dân cố đô mới ca rằng:

Đất Đông Dương chôn chân chiến sĩ

Nhật đầu hàng, Anh Pháp bãi binh

Ai vô vọng cầu giọt máu hy sinh

Giành nền độc lập Cụ Hồ Chí Minh muôn đời...

Một thời kỳ lịch sử biến động của dân tộc đã được “kể” lại chỉ trong bốn câu. Tình thế cách mạng chín muồi, khởi nghĩa tiến lên giành thắng lợi để kết lại bằng hình ảnh một “Cụ Hồ Chí Minh muôn đời” chan chứa trong lòng dân một niềm tin về nền độc lập dân tộc. Lịch sử sang trang và cuộc sống của người dân cố đô lại lật qua trang mới, nơi tình yêu đôi lứa nảy mầm:

Chỗ mô rối cho bằng chỗ dây thép

Chỗ mô đẹp cho bằng chỗ Morin

Kể từ ngày quýt lại gặp chanh

Chàng đành gặp thiếp ông trời xanh mới đề...

Hiện còn rất nhiều những câu ca dao, hò vè xứ Huế rất hay đang còn lưu lạc trong dân gian. Những người già thì khá am tường, thông thuộc nhưng “lực bất tòng tâm”; trong khi lớp trẻ thì ít quan tâm, chỉ chạy theo thơ nhạc “thời thượng”. Nên chăng cần có một công trình lớn để tập hợp, thống kê toàn bộ những giá trị văn học dân gian quần chúng này, cũng như việc phổ biến và phát huy các giá trị đó thông qua các hoạt động thiết thực và hiệu quả, để chúng không bị mai một theo thời gian.

Lê Vũ Trường Giang