Bố lửa có dán lá bùa

...Ngày xưa, trên miền núi cao, người Tày chúng tôi chưa có đủ chăn đệm và quần áo ấm. Lửa đã làm ra sức nóng ấm lan tỏa, giúp cho mọi người chống lại khí lạnh mùa đông, sương giá mưa tuyết. Ánh sáng của lửa giúp cho người đời học chữ, đọc sách thánh hiền, biết phải trái trên dưới trước sau. Biết ăn ở sao cho đúng lề thói, hợp với lòng người...

Đêm ba mươi Tết, ở trên quê tôi, trong nhà ai ai cũng phải có một ông po phầy. Trong tiếng Tày, po là bố, phầy là lửa. Po phầy là bố lửa. Vậy bố lửa là ai? Cho đến tận bây giờ, tôi cũng không hiểu cái lão này là khách khứa, hay người nhà. Trên lưng bố, lại được đích thân gia chủ dán một miếng giấy hồng điều, to bằng bàn tay. Vẽ bùa loằng ngoằng lên đó. Lá bùa hãy còn thơm phức mùi mực Tàu. Miếng giấy đỏ ấy xác định trắng phớ rõ ràng đây là linh vật. Nên bố ta cứ thản nhiên ngồi lù lù, nằm chềnh ềnh ngay lối ra vào. Bố bất cần biết ai đang đi ra cửa, ai đang từ ngoài đồng về nhà, ai đang ngồi bên cạnh lục sục nấu xào. Không những thế, bố ta còn cho cái đầu to xù hồng rực của mình chui tọt vào hẳn bên trong lòng ba ông đầu rau. Một mình bố chiếm một thể tích khung khủng không hề nhỏ. Gọi là bố lửa, nhưng chính xác đây không phải người. Bố lửa chỉ là một gộc củi to, còn nguyên cả cây vỏ sần sùi. Người ta gọi bố vì tầm quan trọng của gộc củi mà thôi. Thực ra, bố cũng tự lấy mạng của mình làm mồi cho than lửa đánh chén, giống như củi đuốc. Thân bố lửa lớn bằng bắp đùi, dài hàng hai ba sải. Sau tiếng pháo giao thừa đùng đoàng, người ta liền đốt bố lên. Đốt cho bằng cháy, đến khi nào có chấm sáng lớn bằng hòn bi ve giữa lõi là được. Rồi kể từ đó, bố có mỗi một nhiệm vụ giữ lửa than đến hết ngày đắp nọi (tết ba mươi tháng Giêng). Đây là khoảng thời gian chẵn ba chục ngày đêm. Bố không được để bếp than nguội lạnh. Phải làm ấm cho cửa nhà. Hơ hơi nóng lên bàn thờ. Giữ gìn kiêng cữ chỉ trong một tháng thôi, may mắn an lành cho gia đình cả năm. Nên bố lửa được phép dùng gỗ nhóm một. Mà phải một La Mã. Hạng A hoa hẳn hoi, chứ không ai dùng gỗ tạp, hay thứ gỗ hợp tác khai hoang vớ vẩn. Càng không bao giờ dùng thứ gỗ nhăn nhở cười cười léc léc như báo đông (người rừng). Hoặc thứ gỗ trông kềnh càng to xác ở mẽ ngoài, nhưng tơi xốp, rỗng tuếch, thối inh ở trong ruột, cũng bỏ. Thường người ta tìm chọn tận trong rừng sâu, loại gỗ nghiến chắc thịt cứng xương làm bố lửa. Loại gỗ này rắn đanh hơn sắt. Người Pháp từng gọi gỗ nghiến là thép không gỉ của người An Nam. Nó có họ với nhà lim. Nhưng lim không có lõi. Nghiến già có lõi màu cánh gián. Nghiến non có màu vàng nghệ. Dù già hay trẻ, khi gõ lên có kêu coong coong, mới đúng là nghiến núi đá. Nếu kêu bụp bụp đần độn, đích thị là nghiến núi đất. Chọn được cây nghiến có tiếng kêu kiên cường như thế, bố mới yên lòng nuôi lửa lâu dài. Đốt một lần thôi, bố cứ nhì nhằm nhóp nhép với gio bếp, với chú mèo tam thể. Suốt ba chục ngày đêm chả bao giờ nhắm mắt, thế mà bố vẫn tỉnh queo toàn phần. Thoạt đầu, lửa vừa mới phọt ra từ đầu diêm, còn hoi mùi lưu huỳnh, nên rất khó bén. Bố nghiến nhà ta sẵn bản tính gan lỳ, cứng đầu cứng cổ. Đúng là đồ cá biệt. Ngày nay, còn có người bảo đó là loại gỗ trí tuệ, bản lĩnh, có tình cảm. Hoành tráng chưa. Gỗ mà như người. Muốn sử dụng nó, người dân phải dùng rất nhiều củi nòm thật khô, khum hai tay gọi lửa. Nhưng khi lửa đã bén rồi thì bố cháy vào đến tận kỳ cùng trong gan ruột. Cháy đến mức tự bố chảy mồ hôi đít xèo xèo. Thế tại sao người Tày gọi lửa bằng bố? Theo quan niệm từ cổ xưa đến tận bây giờ, bố là người quan trọng bậc nhất trong mỗi gia đình. Dân gian mãi nói về nỗi đau của những đứa trẻ thiếu vắng người cha: Con không cha như nhà không nóc. Cha (bố) là cái nóc. Nóc là chỗ quan trọng nhất của ngôi nhà. Trong tiếng Tày, bố là po. Tiếng Hán là "phụ". Trong chữ "phụ", hai tay ông cầm sẵn hai chiếc roi. Hai chiếc roi bắt chéo nhau ở tư thế sẵn sàng vụt. Trừng trị ngay hễ có đứa con nào hư đốn. Khiếp thế. Oách đến như vua chúa, ông ta cũng chỉ cần độc một quyền trượng. Bố quan trọng bởi là người làm ra những giọt nặm làng tinh trùng. Giọt nặm làng thực chất phải gọi nó là hạt giống, mặc dù ở thể lỏng. Một giọt nặm làng đắt ngang một vạn gánh củi. Một ngàn gánh than. Nặm làng ấy được truyền đời lưu giữ, nâng niu, chắt bóp gửi vào trong lòng người mẹ. Giọt nặm làng âm thầm lớn lên mỗi ngày. Người ta gọi nó là bào thai. Bào thai đủ chín tháng mười ngày, nở ra một con tý nhau hon hỏn. Người tý nhau hon hỏn trông như ngọn lửa nhỏ. Ngọn lửa nhỏ bắt đầu oe oe gáy thử. Được đà, nó gáy rất vang và hỏi xem cuộc đời con người kéo dài được bao lâu. Cuộc đời con người khổ nhiều hơn sướng, hay ngược lại. Dĩ nhiên, cuộc đời người bắt đầu tính từ khi ngọn lửa nhỏ biết gáy. Ngọn lửa nhỏ ấy sau này lớn lên sẽ đảm nhiệm vai trò bố lửa. Vai trò càng quan trọng, người ta càng ít xuất hiện. Chân nhân bất lộ tướng. Cho nên, bố mày chọn đúng đêm ba mươi Tết, năm vừa hết Tết vừa đến. Đấy là thời điểm lịch sử ngon lành nhất. Bố lửa còn tượng trưng cho cuộc sống văn minh của loài người. Nhờ có lửa mà con người ngày càng tỉnh táo khôn ngoan hơn. Nhớ thuở còn hồng hoang, chưa có lửa, người tiền sử vẫn ăn tươi nuốt sống một cách ngon lành. Nhưng đó chỉ là cuộc sống của những loài thú hoang. Đã gọi cuộc sống hoang dã bầy đàn, giết người cướp của xảy ra thường xuyên. Cuộc sống hoang dã không thích phụ thuộc vào những quy định khô cứng, nghiêm ngặt của luật lệ. Bố lửa còn là một nhân chứng lâu đời nhất của lịch sử loài người. Ai trong đời trót ăn không nói có, sai trái với lệ làng, sẽ bị bố lửa soi sáng phân minh. Ngày xưa, trên miền núi cao, người Tày chúng tôi chưa có đủ chăn đệm và quần áo ấm. Lửa đã làm ra sức nóng ấm lan tỏa, giúp cho mọi người chống lại khí lạnh mùa đông, sương giá mưa tuyết. Ánh sáng của lửa giúp cho người đời học chữ, đọc sách thánh hiền, biết phải trái trên dưới trước sau. Biết ăn ở sao cho đúng lề thói, hợp với lòng người. Biết kính trên nhường dưới. Ánh sáng của lửa chống lại hổ báo ma quỷ rình rập. Ánh sáng của lửa soi vào đâu, nơi ấy phơi bày ra cái đẹp. Cái đẹp sẽ xua tan hết mọi cái xấu xa tội lỗi. Bởi thế, người Tày ví tình củi lửa như lòng mẹ. Thẩu bấu tấng phầy, đây bấu tấng pỏ mẻ. (Tạm dịch: Không gì ấm hơn ngọn lửa. Không gì tốt đẹp hơn tấm lòng cha mẹ). Vậy, lửa đấy là vật quý nhất, thiêng liêng nhất, cần thiết nhất. Cần thiết và quan trọng như cái cổ trên con người ta. Thế nên, mọi người đại xá hãy nhìn qua trán, cho tôi được nói một câu. Một câu thôi, dù có bị đánh gẫy răng tôi vẫn xin thưa: Lửa đã sinh ra người. Và người lại làm ra lửa. Người và lửa cần nhau như bố con. Không có con thì làm sao thành bố? Ngược lại, không có bố thì ai làm ra con? Dù ở đâu, người Tày chúng tôi luôn tôn xưng và thờ bố lửa. Thờ ngay trong không gian bếp. Bếp là nơi duy trì sự sống. Bếp là trái tim của nhà. Việc thờ bố suốt cả tháng Giêng, buộc ai ai cũng phải nhớ. Bố cứ nằm yên đấy. Không ai dám bước qua bố. Không ai đụng chạm và nói lời cạnh khóe trước mặt bố. Kể cả chó, mèo, dao, rựa cũng không được đặt lên trên lưng. Bố lửa oách chưa nào?