'Bắt bệnh' khó lớn của ngành công nghiệp điện tử Việt Nam

Ngành công nghiệp điện tử (CNĐT) của nhiều nước châu Á chỉ mất chừng 20 năm để rõ hình hài cùng các sản phẩm chủ lực. Nhưng CNĐT của Việt Nam hiện đã có dư 30 năm phát triển mà vẫn ở chỗ thấp nhất trong chuỗi giá trị gia tăng. Vì sao vậy?

'Bắt bệnh' khó lớn của ngành công nghiệp điện tử Việt Nam - Ảnh 1

Ảnh minh họa

Nếu nhìn bằng những con số, người ta dễ có cảm giác ngành CNĐT Việt Nam phát triển mạnh trong những năm qua để trở thành ngành công nghiệp được kỳ vọng là mũi nhọn. Số lượng các doanh nghiệp tăng nhanh từ 256 lên 1.021 doanh nghiệp (giai đoạn 2005 - 2014). Bên cạnh đó, số lượng việc làm trong ngành công nghiệp điện tử tăng 7 lần trong vòng 8 năm, từ 46.000 lao động năm 2005 lên 327.000 lao động và khoảng 500.000 lao động năm 2016. Đặc biệt một vài năm trở lại đây, ngành CNĐT có bước phát triển vượt bậc, trở thành điểm đến của nhiều doanh nghiệp FDI như Samsung, LG, Intel,…. Từ năm 2015, Việt Nam là nước xuất khẩu điện tử lớn thứ 12 trên thế giới và lớn thứ 3 trong khối ASEAN. Năm 2017, kim ngạch xuất khẩu điện tử của Việt Nam dự kiến vượt ngưỡng 70 tỷ USD.

Thế nhưng ngay cả với quan điểm thoáng đến độ, việc sản xuất ra sản phẩm điện tử "made in Vietnam" không quan trọng bằng việc xem xét tỷ trọng đóng góp của doanh nghiệp nội địa trong giá trị sản xuất công nghiệp của ngành điện tử Việt Nam, thì hoàn toàn không khó để nhận thấy, hầu hết các sản phẩm trên thị trường điện tử đều là hàng nhập khẩu nguyên chiếc hoặc lắp ráp bằng các linh kiện nhập khẩu. Các doanh nghiệp trong nước chỉ mới tham gia khâu hoàn thiện các sản phẩm bao bì, sách hướng dẫn, linh kiện nhựa mà chưa làm được các sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Số doanh nghiệp sản xuất linh kiện chỉ chiếm khoảng 52,28%. Đặc biệt, sản xuất nội địa chỉ tập trung vào một số linh kiện cơ khí, nhựa - cao su, bao bì... với tỉ lệ nội địa hóa chỉ 20-30%.

Với khách hàng Hàn Quốc như Samsung hay LG, các doanh nghiệp Việt chỉ có thể ký hợp đồng với nhà thầu phụ nên thường không có được kế hoạch làm việc dài hạn mà chỉ theo từng đơn hàng. Các chuyên gia kinh tế đều nhất trí cho rằngViệt Nam đang là điểm đến hấp dẫn của dòng vốn FDI trong ngành công nghiệp điện tử, song nước ta cũng đang vấp phải không ít thách thức như công nghiệp điện tử mới dừng ở mức độ gia công, doanh nghiệp điện tử trong nước chưa tham gia nhiều trong chuỗi cung ứng hàng điện tử. Việc bỏ lỡ cơ hội này khiến cho Việt Nam có thể mất đi cơ hội vàng để chen chân vào chuỗi giá trị của ngành hàng hết sức tiềm năng này hoặc mãi không ra khỏi vòng xoáy ít lợi nhuận nhất trong chuỗi giá trị khi mà có đến 95% kim ngạch xuất khẩu hàng điện tử có nguồn gốc từ các công ty nước ngoài tại Việt Nam, vai trò của doanh nghiệp trong nước rất mờ nhạt.

Vậy lối ra nằm ở chỗ nào? Các chuyên gia cho rằng, trước hết cần khắc phục sự chậm trễ trong thực thi chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ. Tiếp đến giải cho được bài toán thiếu hụt lớn về nguồn nhân lực chất lượng cao cũng như nguồn vốn đầu tư vào lĩnh vực sản xuất ngành điện tử, đặc biệt là lĩnh vực sản xuất công nghiệp hỗ trợ ngành điện tử. Cần tập trung nghiên cứu, xây dựng các dự án cấp quốc gia nhằm xác định rõ chiến lược phát triển của ngành; trong đó, chú trọng tới việc xác định sản phẩm cốt lõi, có sức đột phá để thúc đẩy ngành điện tử phát triển nhanh và hiệu quả hơn. Mỗi doanh nghiệp cũng cần xác định phân khúc sản phẩm và khách hàng phù hợp cũng như tính đến khả năng đón lõng xu hướng tiêu dùng và phát triển công nghệ chung của thế giới...

Được biết tới đây, Bộ Công Thương sẽ đưa ra thêm những giải pháp đẩy mạnh sự liên kết, xúc tiến thương mại, đầu tư giữa doanh nghiệp nội địa và doanh nghiệp FDI cũng như nâng cao trình độ về sản xuất, kỹ thuật của doanh nghiệp Việt.

Nhưng đó là chuyện dài hơi. Việc có thể làm được ngay trước mắt là khắc phục việc quá nhiều doanh nghiệp đầu tư vào điện tử dân dụng, hiện chiếm khoảng 80% trong khi doanh số chỉ chiếm khoảng 30% tổng doanh thu toàn ngành. Bên cạnh đó, công tác nghiên cứu, thiết kế phát triển sản phẩm (R&D) của các doanh nghiệp Việt Nam được nhìn nhận là có nhiều khả năng để từ đó chen chân được vào các công đoạn “chế biến sâu” trong chuỗi giá trị ngành.

Mặt khác cần vận động doanh nghiệp nước ngoài chủ động chuyển giao công nghệ hiện đại cho đối tác Việt Nam, kể cả kinh nghiệm, cách làm phù hợp để tiệm cận, làm chủ tình hình trong bối cảnh hội nhập. Ngoài ra, cần xây dựng cơ chế huy động nguồn lực tổng hợp, nhất là chất xám để tạo ra sự đột phá, ứng dụng chất xám trong việc sáng tạo ra sản phẩm mới, với ý tưởng táo bạo, độc đáo nhằm tạo dựng uy tín của ngành điện tử Việt Nam.

Quang Lộc