Bản mỹ nữ dưới chân mây

Bản Mậu thuộc xã Tuấn Mậu, huyện Sơn Động (Bắc Giang) nổi tiếng với truyền thuyết về gái tiến vua. Biết bao trang nam tử đã không quản ngại đường xa, vượt cả trăm cây số tìm về bản, náo nức mong tận mắt chiêm ngưỡng nhan sắc những bông hoa của núi rừng được truyền tụng có dòng dõi phi tần. Dẫu đường vào bản còn gập ghềnh nhưng cảnh sắc, tình người và những khám phá mới mẻ khác nơi chân mây miền Tây Yên Tử đã không phụ lòng khách xa...

Ghập ghềnh nơi tiên cảnh

Từ ngã ba xã Yên Định, huyện Sơn Động theo đường 291, đi hơn 20kilômét chúng tôi về xã Tuấn Mậu trong tiết trời mưa bụi nhạt nhòa. Nhờ tay lái quen đường rừng của các anh ở phòng văn hóa huyện, chúng tôi vượt qua đoạn đường gập nghềnh về Bản Mậu. Dưới mưa lui phui, xe đi sau trèo lên những lằn vết xe đi trước để tránh trơn trợt. Nghe các anh kể, ngày mưa con đường này chỉ còn nước lội bộ. Có đoạn bùn sình lầy đến nỗi chân cứ rút bùn đất mà bước đi. Chỉ một con đường độc đạo như sợi chỉ xuyên dọc bản, nhà dân bám bên rìa đường tựa lưng vào triền Tây Yên Tử. Những đoạn đèo dốc như lao thẳng xuống phía con suối nước trong veo. Như nhiều nơi ở rẻo cao, người dân tự bắc cầu qua suối và thu lệ phí. Cầu đơn sơ chỉ dành cho các phương tiện xe máy, xe đạp, người đi bộ. Không khí của miền rừng trong lành lắm. Những thung bãi ngàn ngạt hoa dại tím yên ả đến thơ mộng.

Thôn Bản Mậu nằm dưới chân núi phía Tây Yên Tử. Đường chính của bản bắt mạch vào nhánh thứ ba của tuyến đường 293 (cung đường du lịch tâm linh, thuộc đề án phát triển du lịch của tỉnh Bắc Giang) đến khu du lịch sinh thái Đồng Thông (xã Tuấn Mậu). Tại Đồng Thông, theo dự án sẽ có bãi đỗ xe, nơi tập kết khách du lịch trước khi hành hương lên tới chùa Đỉnh Đồng, Yên Tử. Theo ông Nguyễn Văn Sơn - Phó Chủ tịch xã, hoạt động văn hóa - du lịch là chương trình hành động của Đảng bộ xã Tuấn Mậu trong những năm tới. Riêng Bản Mậu với lợi thế "làng mỹ nhân" gắn với các điểm có truyền tích kỳ thú là một điểm đến thu hút khách.

Ông Trịnh Tiến Hồng, Chủ tịch Hội Nông dân xã Tuấn Mậu, người Bản Mậu cho biết, cả thôn có 110 hộ (73% dân tộc Dao) thì có tới 58 hộ nghèo. Đồng bào chủ yếu vẫn làm nông nghiệp. Con trai con gái mới lớn trong thôn đều đi học hoặc thoát ly đi làm ăn xa trong các khu công nghiệp, chỉ dịp lễ, Tết mới về. Một số thanh niên làm ở mỏ than bên Quảng Ninh. Hái thuốc nam là một nghề phụ của người dân Bản Mậu. Những cây thuốc nam gia truyền qua 4 đời của đồng bào Dao chữa được nhiều chứng bệnh đau nhức xương khớp, gan, thận... có tiếng khắp vùng. Ngày hội Yên Tử, bà con trong bản mang thuốc lên Yên Sơn bán và lưu lại đó khi nào bán hết thuốc mới về. Ngày thường bản vắng tanh...

Thiếu nữ Bản Mậu.

Đàn bà bản Mậu xưa và nay

"Này Bản Mậu xưa gái tiến vua/ Một cười ngàn vạn chẳng dễ mua/ Trách chi quân tử dây tình vướng/ Đổ tại tà ma tại phép bùa" - một nhà thơ đến thăm bản đã thốt lên những câu thơ như vậy. Hay còn có câu "Nếp làng gà, đàn bà Bản Mậu", nghĩa là đến Sơn Động nếu được ăn cơm nếp ở làng gà (xã Long Sơn) thì rất ngon, còn được gặp gỡ với đàn bà Bản Mậu thì khó có thể quên.

Nhân dân trong vùng còn truyền tụng một huyền thoại liên quan đến giếng thần và nhan sắc của con gái Bản Mậu như sau: Ngày xưa ở bản có một giếng nước trong vắt, ngọt lịm, con gái thường ra đây múc nước rửa mặt, tắm gội nên cô nào cũng trắng trẻo, môi đỏ má hồng, dáng cao ráo thanh thoát. Thế rồi bao nhiêu cô gái bản cứ lần lượt bị con trai nơi khác đến tán tỉnh rồi lấy làm vợ. Một số cô gái đẹp, múa hay hát giỏi đi tham dự lễ hội ở tổng huyện, nhan sắc của các cô khiến những vị quan tướng say đắm rước về làm phu nhân. Tức quá, đám trai Bản Mậu mới bắt một con chó mực, cắt tiết đổ xuống giếng để giếng mất thiêng. Hiện nay, bà con vẫn chỉ nghe nói Giếng Tiên nằm dưới chân núi dọc bản mà chưa xác định được chính xác vị trí nào. Dẫu không được dùng nước Giếng Tiên nữa, nhưng con gái Bản Mậu đến nay vẫn có tiếng là xinh đẹp. Một minh chứng để người dân Bản Mậu tự hào về con gái bản, đó là vào những năm 2000, đất núi được nhiều trang nam tử tìm đến thăm vì có người đẹp Bàn Thị Giản, đạt giải nhất trong cuộc thi sắc đẹp các tỉnh miền núi phía Bắc; hoặc "Người đẹp hoa cúc" Trịnh Thị Hương, sinh năm 1983, đứng trong tốp 10 người đẹp của cuộc thi Hoa hậu các dân tộc Việt Nam năm 2007. Hương tham gia cuộc thi khi đang là sinh viên Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội. Cũng chuyến đi này, chúng tôi ghé qua nhà hàng "Hương gia quán" của người đẹp ở thị trấn Thanh Sơn, được biết Hương đang đi làm phiên dịch cho đoàn khách Trung Quốc ở Quảng Ninh. Người đẹp hoa cúc đã lập gia đình với một kỹ sư ở Nhà máy Nhiệt điện Đồng Rì. Mặc dù bận rộn với công việc và gia đình, nhưng năm nào Hương cũng dành thời gian và tiền bạc của gia đình hoặc quyên góp từ các doanh nghiệp để làm từ thiện cho trẻ em nghèo ở địa phương, khi thì quần áo ấm, khi thì tổ chức cho các em đi nghỉ mát, tham quan...

Câu chuyện về Giếng Tiên chỉ là truyền tích để giải thích về sắc đẹp của gái Bản Mậu, còn một tích khác nữa. Đó là cách đây hơn 700 năm, vua Trần Nhân Tông từ kinh thành đến núi Yên Tử tu hành. Có một số cung nữ được cử lên thuyết phục ngài về triều. Phật Hoàng quyết ý xuống tóc lên Yên Sơn xuất gia lập nên thiền phái Trúc Lâm. Ngài đã ban lệnh giải phóng cung cho các phi tần về quê sinh sống. Một số cận vệ và phi tần đã xuống chân núi mạn Tây Yên Tử lập nên Bản Mậu, một số về bên Uông Bí (Quảng Ninh) sinh cơ lập nghiệp. Phải chăng vì thế mà ngày nay, hậu duệ của các cung tần, mỹ nữ này mới có vẻ đẹp đài các, quý phái như vậy?

Đến nay, con gái Bản Mậu nói riêng và con gái ở xã Tuấn Mậu (xã có 7 thôn bản) đã theo nhau học lên cao, nhiều em đã đỗ vào cao đẳng, đại học. Một thầy giáo dạy trường cấp ba ở thị trấn An Châu (Sơn Động) nhận xét rằng: Nếu hỏi về con gái Bản Mậu thì nhiều em về trường học vẫn có sắc đẹp nổi trội nhất so với nhiều em ở thôn bản khác trong vùng. Nữ sinh miền núi bây giờ bạo dạn hơn, biết làm đẹp hơn cũng bởi được học lên cao và tiếp cận với những phương tiện truyền thông hiện đại.

Chẳng thăm đá Nứng thì dừng...

Anh La Triệu Vân - Trưởng phòng Văn hóa nói rằng, ở Bản Mậu có hòn đá Nứng. Anh cười khà khà giới thiệu: "Đàn bà sờ vào cũng thích, đàn ông sờ vào càng khoái hơn". Chúng tôi nằn nì anh đưa đi xem hòn đá Nứng hình thù ra sao. Dọc những con suối trong veo đang mùa hoa rù rì mời ong bướm những ngày mãn xuân, chỉ thấy nước róc rách ôm chân đá chảy mãi. Anh Vân bảo: "Xa lắm, không đủ thời gian đến được đâu. Hôm nay, trong bản đang có một gia đình lên nhà mới, cán bộ về bản là ghé qua thăm bà con. Uống vài chén rượu chúc mừng, đồng bào mới quý, mới nói chuyện cho nghe". Trong men rượu ngô lâng lâng êm dịu và món thịt lợn chạy bộ nuôi một năm nấu măng rừng tươi ngọt níu chân khách. Mấy anh em bảo nhau thôi thì chẳng đến được hòn đá Nứng thì dừng (dừng chân) cũng được khoái khẩu. Bà con trong bản nghe có cán bộ về thăm vui lắm, mọi người lại nâng chén trò chuyện hỏi thăm nhau như người thân lâu rồi mới gặp.

Tại đây, tôi gặp đội trưởng văn nghệ bản là cô Bàn Thị Duyên, 60 tuổi, thuộc rất nhiều đoạn trường ca của người Dao và cũng là người giỏi thêu thùa. Cô không ngại ngần hát tặng tôi một bài hát sáng tác tiếng Dao rồi dịch sang tiếng phổ thông bằng vần điệu lục bát với ý ca ngợi mùa xuân và tình người nơi đây. Cô vẫn tâm nguyện: Giá như có một nhà tài trợ nào đó giúp đỡ mở một lớp dạy thêu cho các cháu gái ở bản để giữ gìn lấy truyền thống của phụ nữ Bản Mậu. Một bộ quần áo đẹp thêu kiểu truyền thống Dao, phụ nữ phải mất cả năm mới hoàn thành. Chị Xuân là thành viên nhóm múa của đội văn nghệ bản, năm nay đã ngoài 50 tuổi, có ba cô con gái nhưng trông chị vẫn đẹp lắm. Chị tự hào cho chúng tôi xem bộ quần áo cô dâu người Dao mà chị đã giữ gìn suốt mấy chục năm do chính tay tự may thêu.

Nhà sàn của người Dao ở Bản Mậu chỉ còn duy nhất là nhà văn hóa thôn. Đội văn nghệ của bản thành lập một năm nay, có hơn 20 chị em, người trẻ nhất 16 tuổi, chủ yếu là các chị ngoài 30. Phía trước nhà văn hóa có một bãi cỏ rộng thường diễn ra các hoạt động lễ hội, thể thao. Ở bản người Dao, mỗi dòng họ có một mo trưởng giữ việc hành lễ trong các tín ngưỡng truyền thống. Những đêm trăng rằm, chị em ở bản rủ nhau đến cùng sinh hoạt văn nghệ. Thế hệ đi trước truyền lại cho thế hệ sau những điệu múa, lời ca tiếng hát truyền thống của dân tộc Dao. Thế hệ nối tiếp lại sáng tác thêm cả lời mới cho làn điệu truyền thống. Dưới ánh trăng vằng vặc, tiếng hát của các sơn nữ rộn vang núi rừng