Ba nhiệm vụ của hải quân Trung Quốc

Như thể những tranh chấp năng lượng vẫn chưa đủ, sự tranh giành về cá và các nguồn tài nguyên đại dương của Biển Đông cũng góp phần làm gia tăng căng thẳng.

Dầu, yêu sách biển và cạnh tranh chiến lược Trung - Mỹ

Tranh chấp tài nguyên cá

Trước kia, các tàu cá thường xuyên qua lại các khu vực tuyên bố chủ quyền chồng lấn, nhưng tần xuất các vụ việc ngày càng tăng đã làm dấy lên lo ngại. Việt Nam tuyên bố rằng 63 tàu cá với 725 ngư dân nước này đã bị phía Trung Quốc bắt giữ kể từ năm 2005 ở Biển Đông; họ bị buộc phải nộp các khoản tiền lớn mới được thả. Trong một vụ việc được dư luận biết đến rộng rãi ở Việt Nam, một tàu tuần tra của Trung Quốc đã bắt giữ một tàu cá Việt Nam và 12 ngư dân gần quần đảo Hoàng Sa vào tháng 3/2010. Đây không phải là lần đầu tiên Trung Quốc hành động như vậy, và Bộ Ngoại giao Việt Nam đã phản đối rất dữ dội. Đây là một vụ việc thuộc loại thế là quá đủ rồi.

Trung Quốc đã áp đặt một lệnh cấm đánh bắt cá hàng năm ở Biển Đông, nơi nước này coi là dành riêng cho ngư dân của mình. Lần đầu Bắc Kinh ban hành một lệnh cấm như vậy là vào năm 1999 từ tháng 6 tới tháng 7 hàng năm, và đến năm 2009 kéo dài từ ngày 16/5 tới 1/8 hàng năm. Phạm vi của lệnh cấm rất mập mờ, mặc dù nó bao phủ một khu vực xunh quanh quần đảo Hoàng Sa nhưng không kéo dài xa xuống phía nam đến Trường Sa. Việt Nam đã phản đối gay gắt khi lệnh cấm ảnh hưởng đến kế sinh nhai của ngư dân nước này. Để cưỡng chế lệnh cấm và bảo vệ các tàu cá của mình, Trung Quốc đã điều động những gì mà họ gọi là các tàu "tuần tra đánh cá" nhưng thực chất là các tàu hải quân cải tiến. Trung Quốc còn thông báo các kế hoạch nhằm tăng cường sức mạnh của lực lượng giám sát trên biển của nước này lên tới 16 máy bay và 350 tàu vào năm 2015, mà sẽ được sử dụng để theo dõi vận tải hàng hải, tiến hành các nhiệm vụ khảo sát, "bảo vệ an ninh trên biển" và thanh sát các tàu nước ngoài hoạt động ở "lãnh hải Trung Quốc".

Một vấn đề khác là các tàu của Việt Nam cũng đi vào các khu vực mà các nước khác thuộc ASEAN nhận chủ quyền. Hai tàu Việt Nam mang tên Indonesia đã bị các tàu tuần tra của Indonesia bắt giữ hồi tháng 2/2011 gần quần đảo Natuna. Phía Indonesia tuyên bố rằng năm 2009, khoảng 180 tàu (không phải tất cả đều là của Việt Nam, một số đến từ Malaysia) đã bị bắt giữ vì đánh bắt cá trái phép ở lãnh hải nước này. Khi nhu cầu gia tăng và các kho hết hàng, những tranh cãi về đánh bắt cá có thể sẽ gia tăng ở Biển Đông, đặc biệt là khi các bên tuyên bố chủ quyền nâng cấp hải quân và lực lượng bảo vệ bờ biển của họ.

Cuộc tranh đoạt cường quốc

Năng lượng và đánh bắt cá không phải là hai yếu tố duy nhất trong tranh chấp. Biển Đông đang được đưa vào cạnh tranh chiến lược giữa Trung Quốc với Mỹ khi Trung Quốc phát triển một chiến lược hải quân mở rộng và triển khai các năng lực hải quân mới. ASEAN cho rằng tuyên bố của Trung Quốc nhận chủ quyền toàn bộ khu vực là có thể thương lượng được, rằng Trung Quốc sẽ dàn xếp một thỏa thuận được cả khu vực tán thành, trong đó các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ sẽ được điều chỉnh, và rằng các trữ lượng dầu mỏ và khí đốt cũng như các nguồn tài nguyên cá sẽ được chia sẻ. Với nền tảng này, ASEAN ràng buộc Trung Quốc vào đối thoại thường xuyên, hy vọng các lãnh đạo nước này có thể tin vào giá trị của bộ các quy chuẩn mà sẽ chi phối hành xử ở Biển Đông.

ASEAN rất thận trọng nhằm tránh bất kỳ một đường lối nào chọc giận Trung Quốc, hy vọng rằng nước này sớm hay muộn cũng sẽ phản hồi tương tự, và rằng cách của ASEAN khuyến khích sự nhất trí thông qua đồng lòng rồi sẽ được Trung Quốc đón nhận. Nếu vấn đề liên quan chỉ tới các tuyên bố tranh chấp đối với năng lượng và đánh bắt cá, một thỏa thuận - mà sẽ ghi rõ các quy tắc tương tác và quản lý tranh chấp - sẽ là có thể theo cách mà các nhà hoạch định chính sách ASEAN biện hộ.

Sự kình địch chiến lược với Mỹ, tuy nhiên, đang định hình lại cuộc tranh chấp theo một cách thu nhỏ vai trò của ASEAN và khả năng của khối này trong việc đàm phán một giải pháp cho vấn đề với Trung Quốc. Nó khiến Trung Quốc thờ ơ với lo lắng của ASEAN và quan tâm hơn về các động thái của Mỹ ở bên ngoài khu vực cũng như hoạt động của hải quân Mỹ. Nó dẫn tới một sự quyết đoán đặc biệt đối với hành xử của Trung Quốc khi kiểm soát lớn hơn đối với Biển Đông là sự bổ sung cần thiết cho chiến lược hải quân mở rộng và những triển khai của nước này.

Chiến lược hải quân Trung Quốc đã có nhiều năm hình thành kể từ khi Tư lệnh Hải quân Lưu Hoa Thanh (1982-1988) lần đầu tiên yêu cầu một lực lượng hải quân tiến ra-đại dương phải bảo vệ các lợi ích biển của Trung Quốc. Trong vòng hai thập niên qua, Trung Quốc đã phát triển mạnh mẽ sức mạnh hải quân và coi đó như một phần cần thiết của một vị thế cường quốc. Khi Trung Quốc lớn mạnh về kinh tế, các lợi ích biển của nước này cũng được mở rộng tương đương (và cùng với đó là sức mạnh hải quân), đẩy nước này vào xung đột với Mỹ, cường quốc hải quân vượt trội ở Tây Thái Bình Dương.

Sự mở rộng hải quân của Trung Quốc

Chiến lược hải quân của Trung Quốc có ba nhiệm vụ dẫn dắt sự phát triển của các năng lực hải quân nước này. Thứ nhất là để ngăn chặn Đài Loan không tuyên bố độc lập trong khi cản trở Mỹ ủng hộ đảo này bằng những triển khai hải quân trong trường hợp xung đột. Nhiệm vụ này trở thành một đặc điểm nổi bật của chiến lược hải quân Trung Quốc sau khi Mỹ triển khai hai tàu sân bay trong cuộc khủng hoảng Đài Loan 1995-96, Nimitz hồi tháng 12/1995 và Independence hồi tháng 3/1996, trong một cuộc phô diễn sức mạnh hải quân mà người Trung Quốc vẫn còn nhớ rõ. Nhiệm vụ thứ hai là bảo vệ các tuyến thương mại mở rộng và các nguồn cung năng lượng của Trung Quốc chạy qua Ấn Độ Dương và Eo biển Malacca, mà qua đó ước tính 80% lượng dầu nhập khẩu của nước này được trung chuyển. Nhiệm vụ này trở nên quan trọng sau khi Trung Quốc trở thành một nhà nhập khẩu ròng dầu lửa vào năm 1993 và khi, vào cuối thập niên 1990, Bắc Kinh nhận ra mức độ phụ thuộc của nền kinh tế nước này vào dầu nhập khẩu.

Biển Đông đang được đưa vào cuộc cạnh tranh chiến lược của Trung Quốc với Mỹ.

Nhiệm vụ thứ ba là triển khai một năng lực hạt nhân dự bị trên biển ở Tây Thái Bình Dương, vốn là một kết quả khác của cuộc khủng hoảng Đài Loan năm 1995-96. Bắc Kinh hiểu rằng, năng lực đó sẽ đóng vai trò là một hàng rào ngăn chặn tối thượng chống lại Mỹ, trong cuộc khủng hoảng này và cả các cuộc khủng hoảng khác.

Để thực hiện 3 nhiệm vụ kể trên, Trung Quốc đã phát triển hoặc triển khai 4 lớp tàu ngầm mới và 6 lớp tàu khu trục mới trong vòng hai thập niên qua. Trung Quốc tự đặt ra mục tiêu phát triển một lực lượng hải quân trên biển, và như Tư lệnh Hải quân, Đô đốc Vũ Chân Lý (Wu Shengli), tuyên bố hồi tháng 4/2009, Trung Quốc sẽ thành lập một "hệ thống phòng thủ trên biển" để bảo vệ "an ninh biển và sự phát triển kinh tế" của nước này. Một hải quân trên biển cần đến các hàng không mẫu hạm, và chiếc đầu tiên của Trung Quốc, Si Lang - được tái thiết từ con tàu Varyag 32.000 tấn của Liên Xô trước đây, đã trải qua nhiều lần chạy thử nghiệm trong các ngày 10-14/8/2011. Con tàu được cho là sẽ bắt đầu phục vụ trong năm 2012 và sẽ mang 48 chiến đấu cơ Su-33 và chiến đấu cơ Jian-10 của Trung Quốc đã được điều chỉnh cho các nhiệm vụ chuyên chở.

Trung Quốc được cho là sẽ xây dựng một tàu sân bay trọng tải 50.000-60.000 tấn vào năm 2015 và một tàu chạy bằng năng lượng hạt nhân vào năm 2020. Các tàu này đòi hỏi các dàn hộ tống để đảm bảo phòng thủ trên không và bảo vệ trước một vụ tấn công tàu ngầm, cho thấy một kế hoạch mở rộng các năng lực hải quân đã được trù tính.

Về các lực lượng hạt nhân trên biển, Trung Quốc có 4 tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo, hay SSBN. Chiếc SSBN đầu tiên của Trung quốc là Xia giờ đã lỗi thời, được hoàn tất năm 1981 và mang 12 tên lửa đạn dạo JL-1 (SLBM) với tầm bắn lên tới 2.700km, không đủ để tấn công đất liền Mỹ. Hai trong số các SSBN lớp Jin hiện đại và hiệu quả hơn đã được triển khai kể từ năm 2004. Mỗi tàu có thể mang 12 SLBM JL-2 với tầm bắn 8.400km, mang lại khả năng xuyên lục địa. Trung Quốc được cho là sẽ triển khai ít nhất 5 tàu hạng Jin trong tương lai.

Trung Quốc cần có nơi cất giữ các nền tảng hải quân của nước này để bảo vệ chúng trước cuộc tấn công trên không và trên biển. Các tàu sân bay và SSBN cũng cần tiếp cận các vùng biển mở để thực hiện nhiệm vụ của mình; nếu không, chúng có thể bị hạn chế ở các vùng biển có giới hạn và trở nên vô dụng. Chỉ một vài nơi dọc bờ biển của Trung Quốc có thể cung cấp chỗ trú cho hải quân nước này, nơi các hệ thống phòng thủ có thể được tổ chức và chúng cũng có thể cung cấp sự tiếp cận đối với các vùng biển mở. Một là ở Hoàng Hải, nơi một căn cứ tàu ngầm được đặt ở Xiaopingdao gần Dalian. Điểm hậu cần khác là khu vực Hải Nam và Biển Đông, một vùng bán nội hải, vốn có lợi thế về sự gần gũi so với Eo biển Malacca và các tuyến đường biển vươn tới Ấn Độ Dương. Bất cứ thứ gì xa hơn về phía bắc đều có thể trở nên dễ bị tấn công trước sự ngăn chặn của Mỹ khỏi vùng biển mở này.

Vì lý do đó, Trung Quốc đã và đang xây dựng một căn cứ ngầm ở Sanya trên đảo Hải Nam, nơi không chỉ chứa các SSBN mà còn cả các hàng không mẫu hạm cùng các tàu hộ tống của chúng khi chúng được triển khai. Năm 2008, một SSBN lớp Jin đã được triển khai tới đó, và vào tháng 10/2010, hai tàu ngầm hạt nhân lớp Shang được neo ở Sanya. Tàu sân bay Shi Lang nhiều khả năng cũng được đặt ở đó. Khi Hải Nam phát triển như một căn cứ hải quân, Quần đảo Hoàng Sa ở phía nam đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp không quân yểm hộ và bảo vệ biển cho đảo Hải Nam. Điều này giải thích sự nhạy cảm của Trung Quốc trước các tàu giám sát Mỹ và tại sao 5 tàu hải quân Trung Quốc đối đầu với tàu USNS Impeccable khi tàu này cả gan tiến vào trong phạm vi 121 km của đảo Hải Nam ngày 9/3/2009.

Bảo vệ đảo Hải Nam là một chuyện, nhưng sự tiếp cận được đảm bảo đối với vùng biển mở này cho các tàu sân bay và các SSBN lại là chuyện khác. Để làm điều đó, Trung Quốc cần kiểm soát quần đảo Trường Sa, hoặc ít nhất là có khả năng ngăn chặn các cường quốc bên ngoài can thiệp vào các hoạt động hải quân của Trung Quốc trong khu vực, mà vốn sẽ mở rộng tới Eo biển Malacca. Cựu Phó Tư lệnh PLA, Tướng Zhang Li, vào năm 2009 đã yêu cầu một sân bay và hải cảng trên bãi đá ngầm Mischief ở khu vực Phillipines nhận chủ quyền ở quần đảo Trường Sa, nơi đã bị Trung Quốc chiếm đóng. Ý định này là để thực hiện các hoạt động tuần tra trên không trong khu vực, để hỗ trợ các tàu cá Trung Quốc, và để thể hiện chủ quyền của Trung Quốc đối với Biển Đông.

Chính Lưu Hoa Thanh là người đã phát triển khái niệm phòng thủ khu vực cho Trung Quốc, mà sẽ cung cấp không gian biển được bảo vệ cho sự mở rộng hải quân. Ông Lưu học về phòng thủ khu vực từ Sergei Gorshkov, chỉ huy hải quân Liên Xô sau này, người đã dạy ông ở Học viện Hải quân Liên Xô, nơi ông theo học hồi thập niên 1950. Dưới thời ông Lưu, chiến lược Hải quân Trung Quốc chuyển từ ngoài khơi hoặc phòng thủ bờ biển sang "phòng thủ trên các biển gần kề", bao phủ một khu vực kéo tới tận "chuỗi đảo đầu tiên". Nó trải dài từ Nhật Bản tới Đảo Ryukyu và Philippines và tới Biển Đông; chuỗi đảo thứ hai nằm xa hơn ở Thái Bình Dương và kéo dài từ Nhật Bản nhằm bảo gồm cả Guam.

Kể từ khi công thức này ra đời hai thập niên trước, khái niệm chuỗi đảo tiếp tục định hình tư duy hải quân Trung Quốc như một cách xác định và phân ranh các khu vực lợi ích. Khái niệm chuỗi đảo đầu tiên bao gồm Đài Loan như một điểm trọng tâm then chốt và không gian biển xung quanh đó, sẽ cho phép một sự phong tỏa tàu ngầm trong trường hợp Đài Loan tuyên bố độc lập khỏi Đại lục. Nó cũng bao gồm lãnh hải cần thiết cho những đợt tuần tra thường xuyên của SSBN và cho sự triển khai của chúng ở các căn cứ phóng giữa đại dương.

Là một khái niệm phòng thủ khu vực, nó bao gồm Hoàng Hải và Biển Đông như những nơi an toàn để cất giấu các nền tảng hải quân cũng như hành lang an toàn cho chúng tới vùng biển mở. Tuy nhiên, phòng thủ khu vực đòi hỏi Hải quân Mỹ phải bị cầm chân tại Vịnh và ở một khoảng cách xa đủ để không thể can thiệp vào các đợt triển khai của hải quân Trung Quốc trong khu vực. Để đạt được mục tiêu đó, Trung Quốc đã phát triển DF-21D, loại vũ khí được mô tả như một Tên lửa Đạn Đạo chống Hạm (ASBM) có khả năng nhắm tới các tàu chuyên chở và các tàu lớn hơn của Mỹ trên mặt nước. Đô đốc Robert F Willard, Chỉ huy Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ, đánh giá rằng, khi kết hợp với các tàu ngầm Trung Quốc, tên lửa này có thể gây ra một mối đe dọa nghiêm trọng đối với Hải quân Mỹ, và thậm chí có thể "vô hiệu hóa" khả năng phóng sức mạnh của họ. Bộ Quốc phòng Mỹ tuyên bố, với khả năng định vị và lần tìm mục tiêu hiệu quả, tên lửa này có thể đặt các tàu hải quân Mỹ vào nguy hiểm trong tầm bắn 1.500-2.100km.

Song song với khái niệm phòng thủ khu vực, phía Trung Quốc còn muốn Mỹ thừa nhận các tầm ảnh hưởng riêng biệt ở Tây Thái Bình Dương, với Đài Loan và Biển Đông chắc chắn nằm trong tầm ảnh hưởng của Trung Quốc. Từ cách nhìn của Bắc Kinh, sự hiện diện của Hải quân Mỹ ở Tây Thái Bình Dương ngăn cản sự thống nhất của Đài Loan với đại lục và khuyến khích các bên yêu sách thuộc ASEAN ở Biển Đông chống lại các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc. Nếu sự nhất trí có thể đạt được theo cách này với một Mỹ đang suy yếu kinh tế, Trung Quốc có thể trở thành một cường quốc vượt trội ở Tây Thái Bình Dương.

Còn tiếp